🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Lực lượng Công an nhân dân chủ động góp phần tích cực, hiệu quả trong triển khai vệ tinh VINASAT

2 giờ trước
Báo Công an nhân dân trân trọng giới thiệu bài viết của PGS.TS. Phạm Minh Chính, nguyên Thủ tướng Chính phủ với tiêu đề: 'Lực lượng Công an nhân dân chủ động góp phần tích cực, hiệu quả trong triển khai vệ tinh VINASAT'.

Việc phóng vệ tinh VINASAT-1 năm 2008 có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của đất nước. Trong đó có sự đóng góp rất lớn, xuyên suốt, bao trùm, toàn diện của lực lượng Công an nhân dân; nhất là việc sử dụng các biện pháp đặc thù mang tính tổng hợp, liên hoàn suốt quá trình tham gia, từ tư vấn, xây dựng dự án, chọn quỹ đạo, nhà thầu, xác định giá cả cho đến khi sản xuất, phóng vệ tinh là cả quá trình kéo dài 10 năm. Dù gặp nhiều cam go nhưng lực lượng Công an nhân dân đã bản lĩnh, kiên cường vượt qua, góp phần bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia, lợi ích dân tộc.

1. Những năm 1990 đánh dấu giai đoạn phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghệ thông tin và viễn thông trên phạm vi toàn cầu, trong đó vệ tinh viễn thông trở thành một trong những nền tảng hạ tầng quan trọng của nền kinh tế số và xã hội thông tin. Sự phát triển nhanh chóng của các hệ thống thông tin vệ tinh đã làm thay đổi căn bản phương thức kết nối giữa các quốc gia, mở rộng khả năng truyền dẫn thông tin với phạm vi phủ sóng toàn cầu, vượt qua mọi giới hạn về khoảng cách địa lý, địa hình và điều kiện tự nhiên.

Tại thời điểm đó, trên thế giới có khoảng 280 vệ tinh viễn thông thương mại đang hoạt động, cung cấp đa dạng các dịch vụ từ điện thoại, truyền hình, phát thanh, truyền số liệu, Internet băng thông rộng, các dịch vụ thông tin di động và truyền dẫn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và quản trị quốc gia. Riêng khu vực châu Á đã có khoảng 20 nhà khai thác vệ tinh với gần 80 vệ tinh hoạt động, trong khi tại Đông Nam Á, các nước như Thái Lan, Indonesia, Singapore, Philippines và Malaysia đã sớm đầu tư, làm chủ hệ thống vệ tinh riêng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

So với các hệ thống thông tin mặt đất truyền thống lúc bấy giờ, thông tin vệ tinh có nhiều ưu thế nổi bật mà các phương thức truyền dẫn khác khó có thể thay thế. Với vùng phủ sóng rộng, khả năng truyền dẫn trên khoảng cách rất lớn, triển khai nhanh, tính cơ động cao và không phụ thuộc vào hạ tầng mặt đất, vệ tinh có thể bảo đảm thông tin liên lạc liên tục tại những khu vực miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, trên biển và trong các tình huống thiên tai, thảm họa hoặc sự cố làm gián đoạn mạng lưới mặt đất. Công nghệ vệ tinh cho phép cung cấp đồng thời nhiều loại hình dịch vụ viễn thông với chất lượng ổn định, góp phần nâng cao hiệu quả khai thác hạ tầng viễn thông và giảm chi phí đầu tư trong dài hạn. Do đó, vệ tinh viễn thông trở thành một cấu phần không thể thiếu trong hệ thống hạ tầng số quốc gia, được nhiều nước xác định là tài sản chiến lược, gắn chặt với năng lực tự chủ công nghệ, chủ quyền không gian, an ninh thông tin và sức mạnh quốc gia trong kỷ nguyên số.

Đồng chí Phạm Minh Chính tham quan phòng truyền thống và sản phẩm công nghệ của Tập đoàn VNPT. Ảnh: Dương Giang - TTXVN

Trong bối cảnh đó, Việt Nam vẫn chưa có hệ thống vệ tinh viễn thông riêng, toàn bộ nhu cầu truyền dẫn quốc tế và một phần đáng kể nhu cầu thông tin trong nước phải phụ thuộc vào việc thuê băng tần vệ tinh và các tuyến cáp quang biển của nước ngoài. Sự phụ thuộc này ảnh hưởng trực tiếp tới vấn đề chủ quyền, an ninh quốc gia, làm gia tăng đáng kể chi phí khai thác dịch vụ viễn thông thời điểm thập niên 90 của thế kỷ trước. Theo ước tính, mỗi năm nước ta phải chi khoảng 10-15 triệu USD để thuê dung lượng vệ tinh của nước ngoài. Khoản chi phí lớn này không chỉ làm thất thoát nguồn ngoại tệ mà còn đẩy giá cước viễn thông, đặc biệt là cước thông tin quốc tế, ở mức cao so với thu nhập bình quân của người dân, làm giảm năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc xây dựng một hạ tầng thông tin hiện đại, an toàn, độc lập và có khả năng phục vụ đồng thời các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia trở thành đòi hỏi khách quan mang tính chiến lược. Việt Nam có đường bờ biển dài, nhiều đảo, quần đảo, địa hình phức tạp và nhu cầu bảo đảm thông tin trên phạm vi rộng, việc làm chủ công nghệ vệ tinh càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vừa phục vụ phát triển kinh tế, nâng cao đời sống dân sinh; vừa góp phần nâng cao năng lực bảo đảm quốc phòng, an ninh truyền thống cũng như phi truyền thống và khẳng định vị thế quốc gia trong lĩnh vực không gian.

2. Xuất phát từ yêu cầu khách quan đó, Đảng và Nhà nước đã sớm nhận thức được ý nghĩa chiến lược của việc làm chủ hệ thống vệ tinh viễn thông riêng. Ngay từ năm 1995, Bộ Chính trị chỉ đạo Chính phủ nghiên cứu, xây dựng Dự án vệ tinh viễn thông quốc gia. Đây là quyết định có tầm nhìn chiến lược, đột phá trong chuẩn bị hạ tầng công nghệ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chủ trương này không chỉ nhằm giải quyết yêu cầu trước mắt, mà còn đặt nền móng cho quá trình từng bước làm chủ công nghệ không gian, bảo đảm chủ quyền quốc gia trên quỹ đạo vệ tinh, nâng cao năng lực tự chủ về hạ tầng thông tin chiến lược và tạo động lực quan trọng để Việt Nam tham gia sâu hơn vào xu thế phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới.

Với tính chất đặc biệt đó, việc lựa chọn đối tác tư vấn, thiết kế, chế tạo, phóng vệ tinh và xây dựng hệ thống điều khiển mặt đất không đơn thuần là quyết định về kỹ thuật hay thương mại, mà là quyết định có ý nghĩa chính trị, chiến lược, tác động lâu dài đến năng lực tự chủ công nghệ, khả năng bảo đảm lợi ích quốc gia trong nhiều thập niên.

Nhận thức rõ yêu cầu này, trên cơ sở có đông đảo đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài, lực lượng Công an nhân dân đã chủ động xây dựng kế hoạch và triển khai đồng bộ các mặt công tác đặc thù. Đồng thời, chủ động nắm chắc tình hình quốc tế, theo dõi diễn biến của thị trường công nghiệp vệ tinh và năng lực của các tập đoàn hàng đầu thế giới trong lĩnh vực chế tạo, phóng và khai thác vệ tinh viễn thông; thu thập số lượng lớn thông tin, phân tích, đánh giá toàn diện các yếu tố liên quan đến năng lực công nghệ, tiềm lực tài chính, kinh nghiệm triển khai các dự án quy mô lớn, uy tín quốc tế, mức độ tuân thủ các quy định của pháp luật và khả năng hợp tác lâu dài của từng đối tác, nhất là việc phải chiếm lĩnh được vị trí quỹ đạo trên vũ trụ có lợi nhất cho Việt Nam. Trên cơ sở đó, lực lượng Công an đã tích cực, chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng và Nhà nước những nhận định chính xác, khách quan, toàn diện phục vụ việc xem xét, quyết định lựa chọn các nhà thầu phù hợp nhất, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu về hiệu quả đầu tư, làm chủ công nghệ và lợi ích chiến lược lâu dài của quốc gia.

Lực lượng Công an nhân dân tích cực, chủ động phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và cơ quan chuyên môn trong quá trình thẩm định hồ sơ mời thầu, đánh giá phương án kỹ thuật, công nghệ và tổ chức triển khai dự án. Việc đánh giá không chỉ tập trung vào các chỉ tiêu kỹ thuật của vệ tinh, hệ thống điều khiển mặt đất và dịch vụ phóng, mà còn xem xét toàn diện khả năng chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, bảo đảm vận hành ổn định sau khi đưa vệ tinh vào khai thác, năng lực hỗ trợ Việt Nam trong quá trình phối hợp tần số vô tuyến và bảo vệ quyền sử dụng vị trí quỹ đạo 132o Đông. Đặc biệt là đánh giá các đối tác tham gia đấu thầu dự án VINASAT như NPO-PM (Nga), NEC và TOSHIBA (Nhật Bản), ASTRIUM và ALCATEL (Pháp), LOCKHEED MARTIN và ORBITAL (Mỹ) về trình độ công nghệ, độ tin cậy, kinh nghiệm trong sản xuất chế tạo và phóng quả vệ tinh, xây dựng các trạm điều khiển mặt đất và khả năng hỗ trợ công tác phối hợp tần số cho vị trí quỹ đạo của vệ tinh. Đây là những yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với việc bảo đảm hiệu quả khai thác lâu dài, duy trì chủ quyền quỹ đạo vệ tinh và nâng cao năng lực tự chủ của Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ không gian và chủ quyền quốc gia.

Đồng chí Phạm Minh Chính thăm, nghiên cứu và làm việc tại trung tâm vũ trụ NASA

Trong bối cảnh triển khai dự án kéo dài và chịu nhiều sức ép, đặc biệt là những khó khăn trong đàm phán vị trí quỹ đạo và đòi hỏi về tiến độ trong giai đoạn sản xuất vệ tinh, trên cơ sở nắm chắc tình hình bằng các biện pháp đặc thù, Bộ Công an đã chủ trì, phối hợp hiệu quả với các Bộ, ngành liên quan, nhất là Bộ Bưu chính - Viễn thông lúc bấy giờ tham mưu chuẩn xác cho Chính phủ về công nghệ, quy mô, giá trị hợp đồng quả vệ tinh; chọn Satel Conseil của Pháp làm nhà thầu, tư vấn cho đăng ký và phối hợp vị trí quỹ đạo; chọn Telesat của Canada - đối tác nước ngoài mạnh nhất trong lĩnh vực vệ tinh thương mại làm nhà tư vấn; chọn Lockheed Martin và Arianespace làm nhà thầu sản xuất - phóng quả vệ tinh. Thông qua phân tích nhiều yếu tố, Bộ Công an đã đề nghị và được Chính phủ chấp thuận phóng quả vệ tinh cỡ trung bình, với mức đầu tư giảm từ 420 triệu USD xuống còn trên 200 triệu USD.

Quan điểm xuyên suốt quá trình triển khai dự án là đặt yêu cầu bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia gắn chặt với các yêu cầu về công nghệ và hiệu quả kinh tế toàn diện. Lực lượng Công an đã tiến hành đánh giá toàn diện mức độ an toàn, độ tin cậy và những tác động tiềm ẩn đối với an ninh quốc gia đối với từng đối tác nước ngoài. Việc đánh giá không chỉ xem xét các yếu tố kỹ thuật như tính an toàn của hệ thống điều khiển, khả năng bảo mật thông tin, nguy cơ phụ thuộc công nghệ hay khả năng bảo đảm hoạt động liên tục của vệ tinh, mà còn phân tích các rủi ro chiến lược có thể phát sinh trong quá trình khai thác lâu dài, nhất là đối với hệ thống hạ tầng thông tin có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của quốc gia. Cách tiếp cận này thể hiện tư duy bảo đảm chủ quyền, an ninh từ sớm, từ xa, lấy phòng ngừa là chính, góp phần giảm thiểu nguy cơ phát sinh các yếu tố bất lợi trong quá trình vận hành, khai thác vệ tinh.

Song song với đó, lực lượng Công an nhân dân tham gia nghiên cứu, tham mưu, đề xuất nhiều nội dung phục vụ quá trình xây dựng hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu và đàm phán hợp đồng. Đã phối hợp xác định các tiêu chuẩn đánh giá, những yêu cầu kỹ thuật cốt lõi, các điều kiện bảo đảm an toàn, bảo mật cũng như những nội dung cần ràng buộc trong hợp đồng liên quan đến chuyển giao công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực, trách nhiệm bảo hành, bảo đảm chất lượng và tiến độ thực hiện dự án. Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và năng lực của từng nhà thầu, lực lượng Công an đã tham gia, tham mưu, đề xuất các phương án, luận cứ và chiến lược đàm phán phù hợp nhằm bảo đảm tối ưu hóa hiệu quả đầu tư, quản lý khủng hoảng, kiểm soát rủi ro, nâng cao vị thế của Việt Nam trong quá trình thương thảo, đồng thời bảo đảm lựa chọn được giải pháp công nghệ tiên tiến với chi phí hợp lý nhưng hiệu quả nhất.

Việc lực lượng Công an nhân dân chủ động tham gia ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư và lựa chọn đối tác của Dự án VINASAT cho thấy tư duy bảo vệ an ninh quốc gia đã được mở rộng từ bảo vệ công trình sau khi hoàn thành sang bảo vệ ngay từ khâu hoạch định chính sách, lựa chọn công nghệ, đối tác và thiết kế thể chế thực hiện dự án. Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và phương thức bảo đảm an ninh đối với các công trình khoa học, công nghệ trọng điểm quốc gia; đồng thời, phản ánh vai trò ngày càng chủ động, tích cực của lực lượng Công an trong tham mưu chiến lược, bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh khoa học, công nghệ và an ninh thông tin trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Cũng cần lưu ý rằng, vào thời điểm đó, các thông tin trái chiều, thông tin phản biện liên quan đến phóng vệ tinh VINASAT rất khác nhau. Song, với bản lĩnh, sự tự tin, quyết đoán qua công tác nắm chắc tình hình, nắm chắc đối tượng, nắm chắc công nghệ, Bộ Công an đã tham mưu kịp thời, đúng, trúng, hiệu quả cho Đảng, Nhà nước. Vệ tinh VINASAT-1 cho đến nay vẫn hoạt động tốt sau 18 năm.

3. Với sự nỗ lực của các Bộ, ngành từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là vai trò của Bộ Bưu chính - Viễn thông (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) và Bộ Công an, đúng 5h17 phút ngày 19/4/2008 (giờ địa phương) từ Kourou (French Guiana), vệ tinh thương mại đầu tiên của Việt Nam VINASAT-1 đã được phóng lên quỹ đạo. Thành công của VINASAT-1 là tiền đề, cơ sở quan trọng cho việc phóng vệ tinh VINASAT-2 vào quỹ đạo, ngày 16/5/2012, tại phòng điều khiển Trung tâm Vũ trụ châu Âu.

Theo các chuyên gia đầu ngành của thế giới, vệ tinh VINASAT là một trong những vệ tinh có công nghệ hiện đại nhất thời bấy giờ ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương với 20 bộ phát - đáp, vùng phủ sóng rộng, đáp ứng các nhu cầu trong nước và khu vực. Hệ thống thông tin VINASAT có thể cung cấp các dịch vụ phát hình quảng bá, kênh truyền hình có độ phân giải cao, dịch vụ truy cập internet, điện thoại cho vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo...

Sự thành công của VINASAT-1 đã tạo đà cho các bước phát triển tiếp theo về công nghệ viễn thám của Việt Nam

Việc phóng thành công và đưa vệ tinh viễn thông VINASAT-1 vào khai thác năm 2008 là một dấu mốc có ý nghĩa lịch sử đối với tiến trình phát triển khoa học - công nghệ và hạ tầng thông tin của Việt Nam. Lần đầu tiên, Việt Nam sở hữu, làm chủ và vận hành một vệ tinh viễn thông thương mại quốc gia, chính thức trở thành quốc gia thứ 93 trên thế giới và là quốc gia thứ 6 trong khu vực Đông Nam Á, sau Thái Lan, Indonesia, Singapore, Philippines và Malaysia. Thành tựu này không chỉ phản ánh bước tiến vượt bậc về năng lực khoa học - công nghệ và quản lý của đất nước, mà còn khẳng định tầm nhìn chiến lược của lãnh đạo Đảng và Nhà nước trong việc đầu tư phát triển các hạ tầng công nghệ trọng yếu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Việc đưa VINASAT-1 vào hoạt động đã đánh dấu bước chuyển từ vị thế phụ thuộc sang từng bước làm chủ hạ tầng thông tin chiến lược trên không gian. Trong bối cảnh tài nguyên quỹ đạo và phổ tần số vô tuyến là nguồn tài nguyên đặc biệt, hữu hạn và có ý nghĩa chiến lược đối với mọi quốc gia, việc Việt Nam khai thác thành công vệ tinh tại vị trí quỹ đạo đã được quốc tế công nhận không chỉ bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của quốc gia trong không gian vũ trụ mà còn góp phần khẳng định chủ quyền quốc gia của Việt Nam trong không gian vũ trụ cũng như năng lực quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên không gian vì mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, không để ai bị bỏ lại phía sau. Đây là bước tiến có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi của một dự án viễn thông đơn thuần, thể hiện sự trưởng thành của Việt Nam trong quá trình tham gia các lĩnh vực công nghệ cao và từng bước khẳng định vị thế trên trường quốc tế.

Một trong những giá trị nổi bật nhất của VINASAT-1 là tạo lập hạ tầng thông tin có khả năng phủ sóng toàn bộ lãnh thổ, vùng biển và hải đảo của Việt Nam, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Nếu trước đây việc bảo đảm thông tin liên lạc tại các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo còn gặp nhiều khó khăn do hạn chế của hạ tầng mặt đất, thì với VINASAT-1, khoảng cách địa lý và điều kiện tự nhiên không còn là rào cản lớn đối với việc cung cấp các dịch vụ viễn thông hiện đại. Hệ thống vệ tinh đã góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, tạo điều kiện để người dân được tiếp cận bình đẳng hơn với các dịch vụ công, giáo dục, y tế, văn hóa và thông tin... Đây là nền tảng quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bao trùm, toàn diện, bền vững, bảo đảm không để bất kỳ khu vực nào bị bỏ lại phía sau trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

Đối với nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia, VINASAT-1 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi hình thành một hạ tầng thông tin độc lập, ổn định và có độ tin cậy cao phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, thông tin liên lạc và ứng phó trong các tình huống khẩn cấp, đột xuất, bất ngờ. Việc chủ động về hạ tầng vệ tinh giúp tăng cường khả năng bảo đảm thông tin liên lạc cho các lực lượng làm nhiệm vụ trên biển, tại các vùng biên giới, hải đảo và những khu vực có điều kiện địa hình phức tạp. Đồng thời, vệ tinh góp phần nâng cao năng lực phục vụ phát triển kinh tế biển, hỗ trợ hoạt động của ngư dân trên các ngư trường xa bờ, bảo đảm thông tin phục vụ tìm kiếm cứu nạn, dự báo và ứng phó thiên tai, bão lũ, cũng như hỗ trợ công tác quản lý, giám sát các hoạt động trên biển, điều tra, đánh giá tài nguyên và bảo vệ chủ quyền quốc gia v.v... Trong điều kiện các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng phức tạp, đan xen, một hệ thống thông tin vệ tinh độc lập đã trở thành cấu phần quan trọng của năng lực bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia và quản trị quốc gia hiện đại.

Việc sở hữu và khai thác thành công VINASAT-1 đã mở ra một giai đoạn phát triển mới của ngành viễn thông Việt Nam theo hướng hiện đại, chủ động và hội nhập sâu rộng với thị trường khu vực và quốc tế. Từ chỗ chủ yếu là quốc gia sử dụng dịch vụ vệ tinh của nước ngoài, Việt Nam từng bước tham gia thị trường dịch vụ vệ tinh thương mại với vai trò là nhà khai thác, cung cấp dung lượng vệ tinh và các dịch vụ truyền dẫn cho khách hàng trong nước và quốc tế. Đây là bước chuyển có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành viễn thông nói riêng và của Việt Nam nói chung, thúc đẩy quá trình tiếp cận, làm chủ và ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực công nghệ không gian; đồng thời, tạo động lực để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hệ sinh thái công nghiệp công nghệ cao của đất nước, nhất là ngành viễn thông và công nghệ số.

Trên phương diện phát triển hạ tầng số quốc gia, VINASAT-1 đã trở thành một cấu phần quan trọng trong hệ thống hạ tầng viễn thông hiện đại của Việt Nam, cùng với mạng cáp quang, mạng truyền dẫn mặt đất và các hệ thống thông tin vô tuyến hình thành một mạng lưới truyền dẫn đa tầng, đa phương thức, có khả năng dự phòng và bảo đảm hoạt động liên tục. Nhờ đó, các doanh nghiệp viễn thông có điều kiện mở rộng và đa dạng hóa các dịch vụ giá trị gia tăng như điện thoại, truyền số liệu, Internet băng rộng, truyền hình, hội nghị truyền hình, giáo dục từ xa, y tế từ xa, chủ động cứu hộ, cứu nạn từ xa và nhiều ứng dụng số khác. Đây cũng là nền tảng quan trọng để thúc đẩy chuyển đổi số trên phạm vi toàn quốc, phát triển kinh tế số, xã hội số, công dân số và từng bước xây dựng hạ tầng số đồng bộ phục vụ phát triển đất nước trong dài hạn.

Như vậy, VINASAT-1 không chỉ là thành quả của một dự án khoa học và công nghệ trọng điểm quốc gia mà còn là biểu tượng của khát vọng tự chủ về công nghệ, làm chủ hạ tầng chiến lược và hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả của Việt Nam. Thành công của VINASAT-1 đã góp phần quan trọng đặt nền móng cho sự phát triển của ngành công nghệ không gian Việt Nam, tạo tiền đề để tiếp tục triển khai các thế hệ vệ tinh tiếp theo, từng bước nâng cao năng lực tự chủ về hạ tầng số, bảo đảm an ninh thông tin, thúc đẩy phát triển kinh tế số và củng cố vững chắc uy tín, vị thế của Việt Nam trong kỷ nguyên khoa học - công nghệ và chuyển đổi số toàn cầu. Đặc biệt là tạo tiền đề, cơ sở vững chắc, tự tin, bản lĩnh để Việt Nam bay cao lên vũ trụ, vươn xa ra biển lớn, tiến sâu vào lòng đất trong kỷ nguyên mới.















Home Icon VỀ TRANG CHỦ