Luật Dự trữ quốc gia (sửa đổi): Quản lý, huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế
Bảo đảm tự chủ chiến lược quốc gia

Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Thành Trung giới thiệu nội dung cơ bản của Luật Dự trữ quốc gia (sửa đổi)
Giới thiệu nội dung cơ bản của Luật Dự trữ quốc gia (sửa đổi), Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Thành Trung cho biết, Luật số 145/2025/QH15 gồm 6 Chương, 36 Điều (giảm 30/66 Điều so với Luật Dự trữ quốc gia năm 2012), trong đó sửa đổi 31 điều và bổ sung 3 điều về dự trữ chiến lược, 1 điều khoản chuyển tiếp, 1 điều khoản sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước và Luật phòng thủ dân sự.
So với Luật năm 2012, Luật sửa đổi bổ sung thêm các nội dung về dự trữ quốc gia, dự trữ chiến lược để bảo đảm tự chủ chiến lược quốc gia, gia tăng khả năng điều tiết thị trường, góp phần ổn định kinh tế – xã hội.
Theo đó, về mục tiêu dự trữ quốc gia, Luật bổ sung mục tiêu "bảo đảm an sinh xã hội, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và các hoạt động của Đảng, Nhà nước; huy động, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế để thực hiện tự chủ chiến lược quốc gia; là công cụ điều tiết thị trường để bảo đảm nền kinh tế vận hành ổn định, hiệu quả theo quy luật thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa".
Về quản lý hàng dự trữ quốc gia, Luật quy định hàng dự trữ quốc gia phải được cất giữ đúng địa điểm, bảo quản theo quy định về bảo quản hàng dự trữ quốc gia, đúng định mức kinh tế - kỹ thuật hàng dự trữ quốc gia và hợp đồng thuê bảo quản hàng dự trữ quốc gia; không yêu cầu phải cất giữ riêng để phù hợp với thực tiễn. Đồng thời, Luật quy định việc mua bán hàng dự trữ quốc gia thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu, đấu giá; việc mua, bán hàng dự trữ quốc gia do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý được thực hiện theo quy định đặc thù trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh.
Về dự trữ chiến lược, Luật bổ sung quy định về “dự trữ chiến lược” và dự trữ chiến lược trong điều tiết thị trường, trong đó, Luật quy định về danh mục hàng dự trữ chiến lược và phân công các bộ, ngành, địa phương quản lý hàng dự trữ chiến lược, quy định về nhập, xuất, mua, bán, bảo quản, cất giữ hàng dự trữ chiến lược và giao Chính phủ quy định trong từng thời kỳ để bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế.
Về phạm vi dự trữ chiến lược, Luật không đặt vấn đề dự trữ tiền, vàng, ngoại tệ vì đã được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân hàng và pháp luật khác có liên quan.

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Dự trữ quốc gia (sửa đổi). Ảnh: Phạm Thắng
Về hội nhập, hợp tác quốc tế trong dự trữ, dự thảo luật đã quy định chủ động hội nhập, hợp tác quốc tế, trao đổi, chia sẻ nguồn lực trong hoạt động dự trữ quốc gia, bảo đảm lợi ích và chủ quyền quốc gia.
Về thí điểm mô hình dự trữ quay vòng sẽ được Chính phủ nghiên cứu khi xây dựng Nghị định để đảm bảo tính khả thi, hiệu quả, tránh lãng phí ngân sách nhà nước.
Về chế độ chính sách đối với người làm công tác dự trữ quốc gia, dự thảo Luật kế thừa và giữ nguyên quy định hiện hành, không bổ sung các loại phụ cấp mới.
Phân quyền, phân cấp triệt để cho các Bộ
Một trong những điểm mới của Luật Dự trữ quốc gia (sửa đổi) là thực hiện phân quyền, phân cấp và cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục. Theo đó, Luật đã cắt giảm 2/6 thủ tục hành chính và không quy định thêm thủ tục hành chính.
Luật đã phân quyền, phân cấp triệt để cho các Bộ về: Ban hành danh mục hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược; quyết định nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia; quy định về bảo quản, định mức kinh tế - kỹ thuật nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia.
Đồng thời, Luật giao Chính phủ quy định danh mục hàng dự trữ quốc gia và dự trữ chiến lược phù hợp từng thời kỳ; bổ sung cơ chế xã hội hóa dự trữ quốc gia, cho phép huy động nguồn lực hợp pháp từ doanh nghiệp, có hỗ trợ chi phí quản lý, bảo quản, thuế và lãi suất theo quy định.
Về xã hội hóa dự trữ quốc gia, Luật bổ sung quy định đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp tham gia dự trữ chiến lược được ưu đãi về thuế, tín dụng và các chính sách ưu đãi khác theo quy định của Chính phủ trong từng thời kỳ; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước và các thành phần tham gia dự trữ chiến lược.
Đồng thời, Luật quy định việc mua, bán hàng dự trữ chiến lược có sử dụng từ nguồn ngân sách nhà nước và nguồn ngoài ngân sách nhà nước thực hiện theo cơ chế thỏa thuận, tự nguyện, hợp đồng theo quy định của Chính phủ và quy định của pháp luật khác có liên quan; mua, bán hàng dự trữ chiến lược từ nguồn hợp pháp của đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp do đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp tự thực hiện, được Nhà nước hỗ trợ chi phí quản lý, bảo quản và các khoản hỗ trợ khác theo quy định của Chính phủ.
Nhật An
36 phút trước
52 phút trước
3 phút trước
18 phút trước
1 phút trước
2 phút trước
5 phút trước
17 phút trước
24 phút trước