Luật Công nghệ cao (sửa đổi): Tăng cường năng lực tự chủ công nghệ
Đột phá trong tư duy chính sách
Giới thiệu những điểm mới của Luật Công nghệ cao (sửa đổi), Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Minh cho biết, một trong những điểm sáng nổi bật nhất và mang tính tiên phong trong Luật là việc lần đầu tiên luật hóa khái niệm “công nghệ chiến lược” và “doanh nghiệp công nghệ chiến lược”.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Minh giới thiệu các điểm mới của Luật Công nghệ cao
Theo đó, công nghệ chiến lược được xác định là những công nghệ có tính đột phá, lan tỏa mạnh mẽ, đóng vai trò then chốt trong việc tăng cường năng lực tự chủ công nghệ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này được hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về đầu tư, thuế và đất đai; các dự án sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược còn được áp dụng chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt.
Việc đưa công nghệ chiến lược vào Luật thể hiện tư duy mới: nếu công nghệ cao là công cụ để bứt phá kinh tế thì công nghệ chiến lược chính là chìa khóa để khẳng định vị thế và sự độc lập của Việt Nam trên bản đồ công nghệ thế giới.
Sự thay đổi căn bản về tư duy chính sách này đi kèm với cam kết của Nhà nước trong tập trung nguồn lực quốc gia để đầu tư, phát triển, ứng dụng và làm chủ các công nghệ chiến lược nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Thay vì các chính sách ưu đãi dàn trải, Luật thiết lập hệ thống tiêu chí định lượng minh bạch để xác định danh mục công nghệ cao và công nghệ chiến lược. Các tiêu chí này tập trung vào hiệu quả thực chất, gồm: năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), tỷ trọng giá trị gia tăng trong cấu trúc sản phẩm, tỷ lệ nội địa hóa, tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D). Đặc biệt, yếu tố làm chủ và tự chủ công nghệ lần đầu tiên được bổ sung như một tiêu chí cốt lõi để hưởng ưu đãi, nhằm chấm dứt tình trạng phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ chuyển giao từ bên ngoài.
Luật Công nghệ cao (sửa đổi) còn đánh dấu bước ngoặt trong chính sách tài chính bằng việc triển khai mô hình ưu đãi thuế theo bậc thang. Cơ chế này được thiết kế để dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực có giá trị cao nhất. Cụ thể, mức ưu đãi cao nhất dành cho các dự án đầu tư vào công nghệ chiến lược, các trung tâm R&D về công nghệ chiến lược và các doanh nghiệp công nghệ cao có tính dẫn dắt, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về tỷ lệ nội địa hóa và đầu tư cho nghiên cứu.
Ưu đãi khuyến khích sản xuất lần đầu tiên được đưa ra áp dụng với đối tượng doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, giúp tạo ra hệ sinh thái hoàn chỉnh từ nghiên cứu đến sản xuất thực tiễn. Bên cạnh đó là mức ưu đãi nền tảng dành cho các hoạt động ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất và dịch vụ.
Việc phân tầng như vậy bảo đảm nguồn lực tài chính của quốc gia tập trung đúng chỗ, tạo động lực cho các doanh nghiệp không ngừng nâng cấp trình độ công nghệ để tiến lên những bậc ưu đãi cao hơn.
Tạo hành lang pháp lý thông thoáng và đầy sức hút
Với chính sách khuyến khích nghiên cứu, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ chiến lược, Luật Công nghệ cao tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng và đầy sức hút với đội ngũ chuyên gia và các nhà khoa học.

Kỳ họp thứ Mười, Quốc hội Khóa XV thông qua Luật Công nghệ cao (sửa đổi)
Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, Luật khuyến khích sản xuất thử nghiệm thông qua việc bổ sung chức năng sản xuất thử nghiệm sản phẩm công nghệ cao, công nghệ chiến lược; cho phép chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm thương mại một cách nhanh chóng.
Luật cho phép triển khai các hoạt động thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, sản phẩm và cả các chính sách mới về công nghệ cao, công nghệ chiến lược. Đây là cơ sở quan trọng để các start-up công nghệ mạo hiểm thực hiện các ý tưởng đột phá.
Cùng với đó, Luật tập trung xây dựng môi trường làm việc và chính sách đặc thù nhằm thu hút, giữ chân các chuyên gia đầu ngành, bảo đảm nhân lực có đủ điều kiện để cống hiến và sáng tạo tại Việt Nam.
Một trong những điểm mới mang tính nhân văn và tầm nhìn dài hạn của Luật là việc luật hóa hệ sinh thái công nghệ cao và khu đô thị công nghệ cao. Hệ sinh thái công nghệ cao được xác định là trụ cột phát triển, trong đó doanh nghiệp công nghệ cao giữ vai trò trung tâm, kết nối tương hỗ với các viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức dịch vụ.
Khu đô thị công nghệ cao là mô hình không gian mới, không chỉ là nơi làm việc mà còn là một “hệ sinh thái sống” lý tưởng. Các khu đô thị này được thiết kế với tiện ích hiện đại, môi trường xanh, sạch, văn minh để phục vụ các chuyên gia, nhà khoa học và gia đình họ, giúp họ yên tâm công tác và sáng tạo.
Các khu công nghệ cao và khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao sẽ chuyển dịch từ sản xuất đại trà sang tập trung vào nghiên cứu, giải mã công nghệ và sản xuất quy mô thử nghiệm.
Ngoài ra, Luật đẩy mạnh phân cấp, phân quyền triệt để cho UBND cấp tỉnh trong việc quyết định thành lập, quản lý các khu công nghệ cao, giúp các địa phương chủ động, linh hoạt trong việc thu hút đầu tư. Mọi quy trình quản lý sẽ được thực hiện trên nền tảng số quốc gia, đảm bảo tính minh bạch, khách quan và cắt giảm tối đa thủ tục hành chính.
Mọi hoạt động quản lý sẽ được thực hiện trên nền tảng số quốc gia. Việc đánh giá hiệu quả hoạt động công nghệ cao sẽ khách quan, minh bạch dựa trên hệ thống chỉ tiêu thống kê, tiêu chí đo lường và dữ liệu số. “Đây là cơ sở để Chính phủ phân cấp triệt để cho các địa phương, giúp cắt giảm tối đa thủ tục hành chính, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án”, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ cho hay.
Luật Công nghệ cao (sửa đổi) gồm 6 Chương, 27 Điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2026.
Nhật An
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
2 tháng trước
2 giờ trước
34 phút trước
3 giờ trước
1 phút trước
2 phút trước
2 phút trước
6 phút trước
6 phút trước
6 phút trước
6 phút trước
9 phút trước
11 phút trước
12 phút trước