🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Liên kết vùng tạo 'không gian tăng trưởng' mới cho nông nghiệp công nghệ cao

1 giờ trước
Hưng Yên đang định vị trở thành trung tâm cung ứng nông sản chất lượng cao cho Hà Nội và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, cần một mô hình liên kết vùng chặt chẽ hơn, từ quy hoạch, hạ tầng logistics, tiêu chuẩn chất lượng đến phát triển chuỗi giá trị.

Phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh Truyền hình Hà nội đã có cuộc trao đổi với ông Đặng Thái Sơn, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Đầu tư và Hỗ trợ Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên về những giải pháp nhằm đưa nông nghiệp công nghệ cao trở thành động lực thu hút đầu tư và nâng cao giá trị nông sản vùng đồng bằng sông Hồng.

- Thưa ông, Hưng Yên được đánh giá là địa phương có nhiều lợi thế phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Ông nhìn nhận như thế nào về vai trò của tỉnh trong liên kết vùng với Hà Nội và các địa phương lân cận?

- Hưng Yên có nhiều lợi thế rất đặc biệt để phát triển nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao. Chúng tôi nằm ngay cửa ngõ Thủ đô Hà Nội - thị trường tiêu thụ lớn nhất cả nước với quy mô hơn 10 triệu dân, đồng thời là trung tâm logistics, thương mại và xuất khẩu của khu vực phía Bắc.

Theo Quy hoạch tỉnh, Hưng Yên được xác định là trung tâm cung ứng nông sản tươi sống và nông sản chế biến sâu cho Hà Nội cũng như vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Đây vừa là lợi thế, vừa là trách nhiệm của địa phương trong việc bảo đảm nguồn cung thực phẩm an toàn, chất lượng cao cho thị trường.

Thực tế cho thấy Hưng Yên đã hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung với các sản phẩm đặc trưng như nhãn lồng, vải trứng, lúa gạo chất lượng cao, rau màu, cây cảnh nghệ thuật... Nhiều mô hình cánh đồng mẫu lớn đã được xây dựng; toàn tỉnh hiện có hơn 1.000 mô hình sản xuất đạt tiêu chuẩn VietGAP, VietGAHP ứng dụng công nghệ trong sản xuất và thu hoạch.

Theo tôi, trong bối cảnh mới, phát triển riêng lẻ sẽ không còn tạo được lợi thế cạnh tranh. Chỉ khi đặt Hưng Yên trong chuỗi liên kết với Hà Nội và các tỉnh trong vùng thì giá trị nông sản mới được nâng lên, từ khâu nghiên cứu, sản xuất đến chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu.

Ông Đặng Thái Sơn, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên. Ảnh: Lê Nhung

- Hưng Yên đã có những mô hình nông nghiệp công nghệ cao nào nổi bật, thưa ông?

- Chúng tôi đã có khá nhiều mô hình cho thấy hiệu quả rõ nét của việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Điển hình là sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên và vải trứng Hưng Yên. Các vùng sản xuất đều áp dụng quy trình VietGAP, GlobalGAP, kết hợp công nghệ số trong quản lý vùng trồng. Người dân sử dụng tem QR truy xuất nguồn gốc, giúp minh bạch toàn bộ quy trình sản xuất, nâng cao niềm tin của người tiêu dùng và mở rộng thị trường xuất khẩu.

Đối với ngành lúa gạo, nhiều doanh nghiệp như ThaiBinh Seed đã đầu tư bài bản từ sản xuất giống, xây dựng kho lạnh, nhà máy hiện đại đến phát triển các cánh đồng mẫu lớn, là mô hình liên kết khá hoàn chỉnh giữa doanh nghiệp và người nông dân. Trong lĩnh vực rau màu, nhiều hợp tác xã đã phát triển mô hình nhà lưới, nhà kính, ứng dụng hệ thống tưới nhỏ giọt, tưới phun sương tự động. Những mô hình này cho thấy công nghệ không chỉ nâng cao năng suất mà còn tạo ra giá trị gia tăng, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản trên thị trường.

- Mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng việc liên kết vùng phát triển nông nghiệp công nghệ cao vẫn chưa đạt như kỳ vọng. Theo ông, đâu là những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay?

- Qua thực tiễn xúc tiến đầu tư và phát triển nông nghiệp, chúng tôi nhận thấy có bốn điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ. Thứ nhất là quy hoạch và quỹ đất, mỗi địa phương đều có định hướng phát triển riêng nên quy hoạch các khu nông nghiệp công nghệ cao còn mang tính cục bộ, thiếu sự phân vai trong toàn vùng. Trong khi đó, việc tích tụ đất đai để hình thành các vùng sản xuất lớn vẫn gặp nhiều vướng mắc về cơ chế và mất nhiều thời gian thực hiện.

Thứ hai là hạ tầng logistics, đây là "nút thắt" rất lớn. Nông sản là mặt hàng có thời gian bảo quản ngắn nhưng hiện nay hệ thống kho lạnh, trung tâm logistics chuyên dụng, trung tâm kiểm định hay sàn giao dịch nông sản liên vùng còn thiếu, khiến chi phí vận chuyển tăng cao, tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch lớn, làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm.

Thứ ba là tiêu chuẩn và chứng nhận chất lượng. Mặc dù nhiều địa phương đều sản xuất theo VietGAP, GlobalGAP hay tiêu chuẩn hữu cơ nhưng quy trình công nhận, kiểm định chưa được liên thông. Điều này khiến doanh nghiệp vẫn phải thực hiện nhiều thủ tục khi đưa hàng vào hệ thống siêu thị hoặc phục vụ xuất khẩu.

Cuối cùng là sự liên kết trong chuỗi giá trị. Mối quan hệ giữa các viện nghiên cứu, trường đại học, nhà khoa học tại Hà Nội với doanh nghiệp và người sản xuất ở Hưng Yên chưa thật sự chặt chẽ. Hoạt động xúc tiến đầu tư vẫn chủ yếu tập trung vào tiêu thụ nông sản tươi, trong khi đầu tư cho chế biến sâu còn hạn chế, chưa tạo được giá trị gia tăng cao.

Liên kết vùng sẽ tạo"không gian tăng trưởng" mới cho nông nghiệp công nghệ cao. Ảnh: PV

- Theo ông, cần có những giải pháp mang tính đột phá nào để khơi thông các điểm nghẽn này?

- Chúng tôi đề xuất ba nhóm giải pháp trọng tâm. Giải pháp đầu tiên là xây dựng mô hình liên kết "Trung tâm công nghệ Hà Nội - Cánh đồng thông minh Hưng Yên". Theo đó, Hà Nội sẽ phát huy lợi thế về các viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm đổi mới sáng tạo để chuyển giao công nghệ sinh học, giống cây trồng, công nghệ bảo quản và chế biến sâu.

Hưng Yên sẽ là nơi tiếp nhận, ứng dụng các công nghệ này trên quy mô lớn thông qua các khu nông nghiệp công nghệ cao tập trung. Sự kết hợp này sẽ tạo ra nguồn cung nông sản sạch, ổn định, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

Giải pháp thứ hai là đầu tư phát triển hành lang logistics nông sản lạnh. Chúng tôi đề xuất Hà Nội và Hưng Yên cùng quy hoạch các trung tâm logistics chuyên dụng dọc tuyến Vành đai 4 và các trục cao tốc kết nối vùng. Nếu có hệ thống kho lạnh thông minh, trung tâm phân phối hiện đại, nông sản từ Hưng Yên có thể được đưa đến các chợ đầu mối, siêu thị của Hà Nội hoặc vận chuyển đến sân bay Nội Bài để xuất khẩu ngay trong ngày. Đây sẽ là yếu tố quyết định giúp giảm chi phí logistics và nâng cao sức cạnh tranh của nông sản.

Giải pháp thứ ba là đồng bộ hóa tiêu chuẩn và số hóa toàn bộ chuỗi cung ứng. Chúng tôi mong muốn xây dựng một bộ tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất cho toàn vùng, hướng tới cơ chế "một chứng nhận, đa chấp nhận". Khi sản phẩm đạt chuẩn tại Hưng Yên thì có thể được đưa ngay vào các hệ thống phân phối của Hà Nội mà không phải thực hiện thêm nhiều thủ tục. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh ứng dụng blockchain và các nền tảng số để truy xuất nguồn gốc từ vùng trồng đến bàn ăn. Đây là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao niềm tin của người tiêu dùng và các nhà đầu tư.

Và khi Hà Nội phát huy vai trò trung tâm khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và tiêu thụ; Hưng Yên cùng các địa phương lân cận phát huy lợi thế về quỹ đất, vùng nguyên liệu và sản xuất quy mô lớn thì chúng ta sẽ hình thành được một hệ sinh thái nông nghiệp hiện đại, có khả năng cạnh tranh trong nước và quốc tế.

Tôi tin rằng với sự đồng hành của Hà Nội và các địa phương trong vùng, nông nghiệp công nghệ cao sẽ không chỉ tạo ra những sản phẩm chất lượng cao mà còn hình thành một không gian phát triển kinh tế mới, đóng góp tích cực vào tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và nâng cao thu nhập cho người nông dân.

Xin cảm ơn ông!

Doãn Thành (thực hiện)

TIN LIÊN QUAN


















Home Icon VỀ TRANG CHỦ