Lên Phja Khao nghe vọng tiếng thời gian

Đường lên đỉnh Phja Khao.
Ngôi đền trên “núi bạc”
Từ trung tâm xã Chợ Đồn, chúng tôi vượt gần 35km đường núi, trong đó có hơn chục cây số chỉ có thể đi bằng xe bán tải. Chiếc xe gầm lên trên những con dốc dựng đứng, ôm cua men theo sườn núi có lúc như lao thẳng vào tầng mây xám. Càng lên cao, không khí càng dịu lại, mùi đất ẩm và rừng cây quyện trong gió núi khiến cảm giác mệt mỏi vì đường xa dần tan biến.
Ở lưng chừng núi, giữa màn sương bảng lảng, tấm biển chỉ dẫn Di tích lịch sử - văn hóa đền Phja Khao hiện ra như một lời mời gọi. Ngôi đền nằm ở độ cao gần 800 mét so với mực nước biển, giữa những tán cổ thụ xanh thẫm và hương ngọc lan thoang thoảng. Ít ai nghĩ rằng, giữa vùng núi cao heo hút này lại hiện diện một ngôi đền mang đậm kiến trúc văn hóa đồng bằng Bắc Bộ.
Bà Lê Thị Phương, quản lý đền Phja Khao cho biết: Đầu thế kỷ XX, khu vực xã Bản Thi cũ, nay là xã Yên Thịnh, có số lượng người đến sinh sống rất đông, chủ yếu là cu li và cai mỏ cho các công ty khai thác quặng của thực dân Pháp. Năm 1933, cộng đồng người Kinh ở đây đã về đền trần ở Nam Định để xin chân nhang, hô thần nhập tượng Đức Thánh Trần và rước ngài về thờ cúng tại ngôi đền Phja Khao.
Đền được xây dựng theo kiến trúc chữ đinh với nhà tiền tế và hậu cung, chính điện thờ Đức Thánh Trần, hai bên là Nam Tào, Bắc Đẩu; ngoài sân có miếu thờ Sơn thần. Năm 2017, đền được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.
Trải qua nhiều thăng trầm, ngôi đền luôn là địa chỉ sinh hoạt văn hóa tâm linh của không chỉ dân tộc Kinh mà dần trở thành không gian tín ngưỡng chung của đồng bào các dân tộc trong vùng. Trong hương khói trầm mặc, giữa tiếng chim rừng và gió núi, ngôi đền như một minh chứng cho sự tiếp biến, giao thoa văn hóa giữa miền xuôi và miền ngược.
Rời đền Phja Khao, chúng tôi tiếp tục hành trình lên đỉnh núi cao hơn 1.000 mét so với mực nước biển. Xe bán tải chỉ có thể đi đến một đoạn, phần còn lại chúng tôi men theo đường mòn phủ kín hoa mua tím và cỏ dại.

Hoa mua trên đỉnh Phja Khao.
Phja Khao hiện ra với vẻ đẹp vừa dữ dội vừa thơ mộng. Núi non điệp trùng chìm trong mây trắng, những bản làng nhỏ thấp thoáng phía xa như nét chấm phá giữa đại ngàn. Nhưng Phja Khao không chỉ có vẻ đẹp của núi rừng.
Ẩn trong sương mù và cây cỏ vẫn còn đó những đoạn đường ray goòng, hệ thống cáp tời quặng đã tồn tại hơn trăm năm, chứng tích của một thời kỳ khai thác thuộc địa đầy đau thương và mất mát.
Gió kể chuyện ngày xưa
Theo tài liệu lịch sử địa phương, năm 1895, ngay khi hoàn thành xâm chiếm thị xã Bắc Kạn (cũ), thực dân Pháp đã bắt đầu khai thác mỏ Chợ Điền - Bản Thi, một trong những mỏ có trữ lượng lớn để vơ vét tài nguyên khoáng sản về mẫu quốc.
Chúng đã xây dựng ở đây hệ thống đường dây cáp tời quặng với đầu tời nằm trên đỉnh núi Phja Khao rộng khoảng 500 mét vuông.
Hai bờ kè đá rất kiên cố rộng khoảng 7 mét, cao khoảng 10 mét. Ở giữa là hệ thống các cột sắt chống đỡ cho 2 đường dây tời quặng đi qua và kéo dài tới trung tâm xã Bản Thi cũ. Toàn bộ hệ thống tời, cột sắt, kè đá đều được xây dựng bằng công sức của những người phu mỏ Việt Nam.
Để dựng nên những công trình ấy giữa núi sâu, hàng nghìn người Việt đã phải lao động khổ sai trong điều kiện khắc nghiệt. Suốt 27 năm, từ 1914 đến 1941, hơn nửa triệu tấn quặng kẽm đã được đưa về mẫu quốc. Người dân khi đó đã truyền nhau câu nói ám ảnh “Bản Thi có đi không có về”, như lời nhắc nhớ về một thời phu mỏ bị bóc lột đến tận cùng.

Phế tích còn sót lại của hệ thống cáp tời quặng trên đỉnh Phja Khao.
Người dẫn đường cho chúng tôi chỉ tay về phía một vực sâu phủ mù sương cách điểm di tích không xa, đó từng là nơi thực dân Pháp ném những phu mỏ kiệt sức hoặc phản kháng xuống vực.
Gió từ chân núi tràn lên lạnh buốt. Mây đặc quánh như có thể nắm được bằng tay. Giữa không gian ấy, những thanh ray sắt cũ kỹ bỗng trở nên lặng lẽ khác thường, như thể lịch sử vẫn chưa thôi kể chuyện.
Người dân địa phương gọi đỉnh núi nơi thực dân Pháp khai thác quặng xưa kia là Phja Khao, theo tiếng Tày nghĩa là “núi bạc”. Theo tư liệu đăng trên Tri Tân Tạp chí năm 1943 của tác giả Nhật Nham Trịnh Như Tấu, sau quá trình khai thác quặng, các lớp đất đá bong tróc để lộ những dãy núi đá nhấp nhô, tạo nên cảnh quan kỳ thú tựa “Vịnh Hạ Long trên cạn”.
Ban đêm, ánh sáng phản chiếu từ quặng khiến cả vùng núi ánh lên sắc bạc kỳ ảo. Có lẽ bởi vậy mà cái tên “núi bạc” ra đời và ở lại đến hôm nay.
Chiều xuống rất nhanh trên Phja Khao. Mây từ thung sâu chậm rãi bò lên triền núi, quấn lấy những thanh ray cũ kỹ và mái đền trầm mặc trong làn sương bảng lảng. Ngọn “núi bạc” hôm nay không còn tiếng goòng quặng hay những phận đời lam lũ năm xưa, chỉ còn gió núi miên man kể chuyện cũ.
Nhưng có lẽ, chính trong sự tĩnh lặng ấy, Phja Khao vẫn đang giữ cho mình một thứ ánh bạc khác - ánh bạc của ký ức, của lịch sử và của những giá trị còn chờ người lữ khách tìm đến để lắng nghe.
Vi Diễn
3 giờ trước
29 phút trước
9 phút trước
54 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước