Làm việc hơn 24 năm, cựu cửa hàng trưởng kiện công ty đòi hơn 1,2 tỷ đồng
Người lao động kiện vì cho rằng công ty còn nợ nhiều quyền lợi
Ông Vũ Minh C. ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường V., TPHCM) được Công ty B. tiếp nhận theo quyết định chuyển ngành từ tháng 6/1985. Trong nhiều năm sau, ông lần lượt đảm nhiệm các vị trí như bảo vệ kho, thủ kho, nhân viên cung ứng và sau này là cửa hàng trưởng tại nhiều đơn vị trực thuộc doanh nghiệp.
Đến ngày 24/3/1992, ông C. được bổ nhiệm làm Cửa hàng trưởng Cửa hàng Dịch vụ tổng hợp tại số A Quốc lộ A. Ngày 18/6/1997, ông được cấp sổ bảo hiểm xã hội (BHXH).
Theo ông C., trong thời gian làm việc, công ty yêu cầu ông phải đóng toàn bộ 20% tiền BHXH, trong khi theo quy định phần nghĩa vụ của người lao động chỉ là 5%, còn doanh nghiệp phải đóng 15%. Theo ông C., khoản tiền này được công ty trực tiếp thu từ tiền lương của ông. Ông cho biết vẫn còn lưu giữ một số phiếu thu thể hiện việc mình đã nộp đủ 20%.
Ông cũng cho rằng mọi chỉ tiêu công ty giao đều hoàn thành tốt. Tuy nhiên, từ năm 2001, doanh nghiệp liên tiếp ban hành các thông báo yêu cầu thanh lý hợp đồng thuê mặt bằng và thu hồi cửa hàng nơi ông đang kinh doanh. Thông báo số 22 ngày 27/4/2002 yêu cầu ông bàn giao cửa hàng trước ngày 15/6/2002.
Ông C. cho rằng, các thông báo khiến ông rơi vào tình trạng “làm cũng không được, nghỉ cũng không xong”, làm mất cơ hội kinh doanh trong thời gian dài.

Làm việc hơn 24 năm, người lao động kiện công ty đòi hơn 1,2 tỷ đồng. Ảnh minh họa: Nam Khánh
Tháng 10/2023, ông khởi kiện công ty, yêu cầu doanh nghiệp thanh toán tổng cộng hơn 1,2 tỷ đồng.
Trong đó, ông yêu cầu hoàn trả hơn 5,47 triệu đồng tiền đóng BHXH bị thu vượt cùng tiền chậm trả; trả khoản tiền lương với tổng thời gian làm việc 24 năm 2 tháng và tiền chậm trả, tổng cộng hơn 182,6 triệu đồng. Đồng thời, bồi thường hơn 1,065 tỷ đồng do mất thu nhập từ tháng 5/2002 đến khi đủ tuổi nghỉ hưu vào tháng 1/2020.
Tuy nhiên, Công ty B. không đồng ý với toàn bộ yêu cầu. Doanh nghiệp cho rằng các yêu cầu của ông C. đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019.
Theo công ty, chính ông C. xác định đã biết việc mình bị thu vượt tiền đóng BHXH từ năm 1997, biết việc không được hưởng khoản tiền mỗi năm một tháng lương từ năm 2005 và cho rằng bị thiệt hại về thu nhập từ năm 2002. Tuy nhiên, đến tháng 10/2023 ông mới khởi kiện nên đều đã quá thời hiệu một năm theo luật.
Công ty cũng bác lập luận của ông C. về việc chờ giải quyết vụ kiện thuê mặt bằng từ năm 2005 nên thời hiệu phải được kéo dài. Theo công ty, đây không phải sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan theo quy định.
Bản án sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông C. Tòa buộc Công ty B. phải trả cho ông C. hơn 986 triệu đồng, gồm hơn 5,47 triệu đồng tiền đóng BHXH, hơn 941,46 triệu đồng tiền lương trong thời gian người lao động không được làm việc và 39,78 triệu đồng tiền trợ cấp thôi việc.
Không đồng ý, doanh nghiệp kháng cáo toàn bộ bản án. Viện trưởng VKSND TP Vũng Tàu (nay là VKSND khu vực 11, TPHCM) cũng kháng nghị, đề nghị hủy một phần bản án sơ thẩm để xét xử lại.
Tòa phúc thẩm chỉ ra hàng loạt sai sót của cấp sơ thẩm
Quá trình xem xét vụ án, TAND TPHCM nhận định cấp sơ thẩm đã mắc nhiều sai sót trong việc xác định quan hệ tranh chấp và phạm vi giải quyết vụ án.
Theo Hội đồng xét xử, ngay từ đơn khởi kiện, ông C. yêu cầu giải quyết ba nhóm vấn đề, gồm tiền BHXH bị thu vượt, khoản tiền tương ứng mỗi năm một tháng lương và bồi thường thiệt hại do mất thu nhập.
Tuy nhiên, trong quá trình thụ lý, tòa sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “tranh chấp về đòi tiền BHXH và yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Đến khi tuyên án lại xác định thành “tranh chấp đòi tiền BHXH, tiền lương và trợ cấp mất việc làm”.
Theo tòa phúc thẩm, việc tự thay đổi quan hệ tranh chấp và giải quyết theo hướng bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, trợ cấp thôi việc là không đúng với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vi phạm quyền tự định đoạt của đương sự.
Bản án sơ thẩm cũng bị cho là giải quyết chưa đầy đủ khi chỉ tuyên trả số tiền đóng BHXH bị thu vượt mà không xem xét yêu cầu tính lãi chậm trả của ông C.
Bên cạnh đó, tòa phúc thẩm đánh giá cần phải làm rõ là lời trình bày của các bên về vụ kiện từ năm 2006 liên quan đến tranh chấp thuê mặt bằng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông C. cho biết trong vụ án năm 2006, ông đã đưa ra yêu cầu phản tố về tiền đóng BHXH, quyền lợi lao động và tiền đầu tư mặt bằng nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết. Phía công ty cũng xác nhận chưa rút đơn khởi kiện, còn ông C. khẳng định chưa rút yêu cầu phản tố.
Theo Hội đồng xét xử, nếu lời trình bày này là đúng thì cần xác minh vì có thể cùng một yêu cầu đang được xem xét trong hai vụ án khác nhau, đồng thời liên quan trực tiếp đến việc xác định thời hiệu khởi kiện.
Ngoài ra, cấp sơ thẩm cũng chưa làm rõ việc Công ty B. đã chấm dứt quan hệ lao động với ông C. hay chưa, trong khi cả hai bên đều xác định doanh nghiệp không ban hành quyết định chấm dứt quan hệ lao động. Đây là tình tiết có ý nghĩa quan trọng để xác định căn cứ pháp lý xử lý vụ việc.
Từ những sai sót trên, tòa phúc thẩm nhận định bản án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, chưa giải quyết đầy đủ, toàn diện các yêu cầu của đương sự và những thiếu sót này không thể khắc phục tại cấp phúc thẩm.
Vì vậy, TAND TPHCM chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty B. và một phần kháng nghị của VKSND, tuyên hủy toàn bộ bản án lao động sơ thẩm, giao hồ sơ cho TAND cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định.
Nguyễn Lê
4 ngày trước
1 giờ trước
6 phút trước
11 phút trước
17 phút trước
22 phút trước
22 phút trước
34 phút trước
48 phút trước
50 phút trước
50 phút trước