🔍
Chuyên mục: Lao động - Việc làm

Làm rõ quyền lợi của người lao động khi xảy ra tình huống bất khả kháng

1 giờ trước
Sửa đổi Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cần gắn cải cách thủ tục, chuyển đổi số với việc bảo vệ tốt hơn quyền lợi người lao động; làm rõ quyền lợi của người lao động và cách thức xử lý khi xảy ra tình huống bất khả kháng... Đây là những nội dung được các ĐBQH tỉnh Nghệ An và Lâm Đồng nhấn mạnh khi thảo luận tại Tổ 7, sáng 5/8.

Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An Thái Thị An Chung điều hành phiên thảo luận Tổ 7

Chưa rõ đơn vị sự nghiệp có được thu tiền dịch vụ của người lao động hay không

Theo ĐBQH Lâm Văn Đoan (Lâm Đồng), Luật hiện hành được ban hành năm 2020, đã tiếp thu nhiều quan điểm, chính sách mới về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Vì vậy, lần sửa đổi này cần tập trung vào những vấn đề liên quan đến tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, sắp xếp tổ chức bộ máy và một số yêu cầu cấp bách khác.

Đại biểu đề nghị Chính phủ, đặc biệt là Bộ Tư pháp, quan tâm bảo đảm sự thống nhất trong cách thiết kế các dự án luật. Hiện nay, có dự án luật quy định chung là “cơ quan có thẩm quyền”, có dự án lại ghi trực tiếp tên bộ, ngành, thậm chí quy định cả đơn vị trực thuộc bộ, dẫn đến thiếu thống nhất.

ĐBQH Lâm Văn Đoan (Lâm Đồng) phát biểu

Theo đại biểu, Luật chỉ nên quy định những vấn đề chung, nguyên tắc và các nội dung liên quan đến quyền con người, quyền công dân. Những vấn đề thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của Chính phủ, các bộ, ngành, nhất là các thủ tục hành chính, cần được cân nhắc kỹ trước khi đưa vào Luật.

Qua nghiên cứu dự thảo, đại biểu cho rằng: vẫn còn nhiều quy định cụ thể về thủ tục hành chính, như tại các Điều 10, 12, 13 và một số điều khác liên quan đến hồ sơ, thủ tục, lệ phí, cấp giấy phép.

Đại biểu đề nghị rà soát, đưa các thủ tục này ra khỏi Luật, trừ những thủ tục liên quan trực tiếp, tác động hoặc làm hạn chế quyền con người, quyền công dân. Các nội dung còn lại nên được quy định tại văn bản dưới luật để bảo đảm linh hoạt trong quá trình thực hiện.

Đại biểu cũng cho rằng: dự thảo chưa thể hiện rõ yêu cầu chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nhiều quy định vẫn được thiết kế trên cơ sở hồ sơ, giấy tờ và thủ tục hành chính truyền thống, trong khi Luật Giao dịch điện tử đã quy định hợp đồng điện tử có giá trị pháp lý tương đương hợp đồng truyền thống.

Theo đại biểu, dự thảo mới chỉ sửa đổi một số nội dung liên quan đến cơ sở dữ liệu về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, nhưng chưa chuyển mạnh các thủ tục, giấy tờ và hợp đồng sang môi trường điện tử.

Trong khi đó, thủ tục hành chính là nội dung thường xuyên biến động, cần được cải cách liên tục. Nếu quy định cứng các thời hạn như 3 ngày, 5 ngày trong Luật thì khi chuyển đổi số và liên thông dữ liệu được thực hiện đầy đủ, nhiều thủ tục có thể được giải quyết trong thời gian rất ngắn, thậm chí ngay lập tức.

Vì vậy, đại biểu đề nghị rà soát các Điều 12, 13 và một số quy định khác về thủ tục; đồng thời bổ sung quy định mang tính nguyên tắc về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường số, đặc biệt là việc sử dụng hợp đồng điện tử phù hợp với Luật Giao dịch điện tử.

Đối với các điều kiện cấp phép, đại biểu cho rằng, dự thảo đang quy định quá cụ thể một số tiêu chuẩn, điều kiện, trong khi đây là những nội dung có thể thay đổi theo thời gian... Chẳng hạn, đối với điều kiện của đơn vị sự nghiệp đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật chỉ nên quy định khung. Những yêu cầu cụ thể về người đứng đầu, trình độ, số năm kinh nghiệm nên được quy định tại văn bản dưới luật để bảo đảm linh hoạt.

Theo đại biểu, không nên lo ngại việc số lượng điều của Luật giảm. Tinh thần mới là xây dựng Luật gọn, quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc và giao Chính phủ quy định những nội dung cụ thể, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và xử lý nhanh các tình huống phát sinh trong thực tiễn.

Đại biểu Lâm Văn Đoan cũng đề nghị bổ sung nguyên tắc xử lý đối với trường hợp xảy ra sự cố, nguy cơ hoặc tình huống bất khả kháng ở nước ngoài, buộc phải khẩn cấp đưa người lao động về nước.

Theo đại biểu, dự thảo cần làm rõ quyền lợi của người lao động và cách thức xử lý trong những trường hợp này, nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của người lao động khi xảy ra tình huống bất khả kháng.

Đại biểu cơ bản tán thành với nhiều nội dung của dự thảo, nhưng đề nghị lần sửa đổi này cần thể hiện rõ hơn yêu cầu chuyển đổi số và xử lý những vấn đề cấp bách phát sinh trong thực tiễn.

ĐBQH Nguyễn Trường Giang (Lâm Đồng) phát biểu

Cũng góp ý về kỹ thuật lập pháp, ĐBQH Nguyễn Trường Giang (Lâm Đồng) cho rằng: các quy định về quản lý nhà nước tại Điều 69 và Điều 70 vẫn còn quá chi tiết, thậm chí phức tạp hơn Luật hiện hành.

Đại biểu đề nghị giữ Điều 69 về nội dung quản lý nhà nước và bỏ toàn bộ Điều 70, phù hợp với tinh thần đổi mới trong xây dựng pháp luật, không quy định quá chi tiết việc phân công, phối hợp giữa các bộ.

Góp ý về khoản 3 Điều 42, đại biểu cho rằng: quy định liên quan đến việc đơn vị sự nghiệp đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài thu tiền dịch vụ còn chưa rõ ràng.

Luật hiện hành quy định đơn vị sự nghiệp hoạt động theo quy định của pháp luật, không vì mục tiêu lợi nhuận và không được thu tiền dịch vụ của người lao động. Dự thảo bổ sung cụm từ “theo quy định của Luật này”, khiến chưa rõ đơn vị sự nghiệp có được thu tiền dịch vụ của người lao động hay không.

Theo đại biểu, việc thu tiền dịch vụ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài là vấn đề nổi lên trong thực tiễn. Vì vậy, dự thảo phải quy định rõ có cho phép đơn vị sự nghiệp thu tiền dịch vụ hay không.

Trường hợp cho phép thu, mức thu phải do Nhà nước quản lý và được giới hạn trong một phạm vi nhất định, không thể để các đơn vị tự quyết định. Đại biểu cho rằng, chỉ quy định đơn vị sự nghiệp hoạt động “không vì mục tiêu lợi nhuận” là chưa đủ, bởi nội hàm của khái niệm này chưa rõ và khó áp dụng trong thực tế.

Tăng cơ chế bảo vệ người lao động trước nguy cơ xâm hại

Quan tâm đến việc bảo vệ người lao động làm công việc chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em, đặc biệt là người lao động làm việc tại gia đình, ĐBQH Lê Thị Hoài Chung (Nghệ An) cho rằng: đây là nhóm lao động có nguy cơ cao bị ảnh hưởng đến an toàn tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; có thể bị bóc lột, cưỡng bức lao động, thậm chí bị quấy rối tình dục hoặc xâm hại.

ĐBQH Lê Thị Hoài Chung (Nghệ An) phát biểu

Để tăng cường cơ chế giám sát, hỗ trợ đối với nhóm lao động này, đại biểu đề nghị tại Điều 9 về nội dung hoạt động dịch vụ cần nghiên cứu bổ sung trách nhiệm của đơn vị cung ứng dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong việc đánh giá, kiểm định và chịu trách nhiệm về nơi làm việc của người lao động, đặc biệt là đối với trường hợp làm việc tại gia đình.

Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị nghiên cứu ứng dụng hệ thống quản lý điện tử, trong đó có chức năng để người lao động gửi tín hiệu khẩn cấp khi cần được hỗ trợ.

Đồng thời, cần đào tạo kỹ năng tự bảo vệ cho người lao động trước khi xuất cảnh. Theo đại biểu, đây là những nội dung cần được quan tâm nhằm tăng cường bảo vệ an toàn và quyền lợi của người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài.

Từ đó, đối với Điều 7 quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đại biểu Lê Thị Hoài Chung đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định không được cô lập người lao động, xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm của người lao động.

Diệp Anh; ảnh: Khánh Duy

TIN LIÊN QUAN
















Home Icon VỀ TRANG CHỦ