🔍
Chuyên mục: Sức khỏe - Y tế

Làm đẹp trước hết phải bảo đảm an toàn

20 phút trước
Thời gian gần đây, các bệnh viện liên tục ghi nhận các ca biến chứng do phẫu thuật thẩm mỹ. Nhu cầu làm đẹp ngày càng cao dẫn đến số cơ sở dịch vụ thẩm mỹ cũng gia tăng, trong đó có nhiều nơi không đủ điều kiện chuyên môn cũng như vệ sinh y tế…

Ảnh minh họa: Shutterstock

Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương  mới đây đã thông tin về trường hợp nữ bệnh nhân L.T.L., 38 tuổi, ở Thanh Hóa, từng đặt túi ngực tại một cơ sở y tế khoảng 9 tháng trước. Sau ca phẫu thuật thẩm mỹ, người bệnh xuất hiện nhiễm trùng, phải tháo túi và điều trị trong thời gian dài. Khoảng 6 - 7 tuần trước khi đến bệnh viện, chị tiếp tục đặt lại túi ngực lần 2.

Chỉ 1 tuần sau phẫu thuật, vùng can thiệp bắt đầu chảy dịch, chảy mủ. Người bệnh quay lại cơ sở thực hiện phẫu thuật, được tháo túi, làm sạch tổn thương, sử dụng kháng sinh và chăm sóc vết thương. Tuy nhiên, sau 2 - 3 tuần tháo túi, vết thương vẫn không liền, liên tục tiết dịch. Người bệnh đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương để được đánh giá chuyên sâu.

Tại Khoa Phẫu thuật Tạo hình, Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, ThS.BS Nguyễn Ngọc Linh nhận thấy tổn thương có nhiều điểm không giống nhiễm trùng vết mổ thông thường. Dịch tiết nhầy, dạng gel, kéo dài; khoang từng đặt túi ngực vẫn không liền dù vật liệu nhân tạo đã được tháo bỏ nhiều tuần. Với tiền sử nhiễm trùng và đặc điểm tổn thương bất thường, các bác sĩ nghĩ đến khả năng nhiễm vi khuẩn NTM (Non-Tuberculous Mycobacteria – Mycobacteria) không điển hình.

Các bác sĩ phẫu thuật điều trị cho nữ bệnh nhân. Ảnh: Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương

Ê-kíp bác sĩ đã tiến hành mổ mở và làm sạch ổ tổn thương, loại bỏ tổ chức viêm, đồng thời áp dụng liệu pháp hút áp lực âm (VAC) để kiểm soát dịch và hỗ trợ quá trình liền vết thương. Chỉ trong khoảng một tuần, hệ thống đã hút ra hơn 500ml dịch từ vùng tổn thương. Theo ThS.BS Nguyễn Ngọc Linh, người bệnh cần phối hợp kiểm soát ổ nhiễm tại chỗ với điều trị bằng thuốc kháng NTM trong thời gian kéo dài, có thể nhiều tháng.

Trước đó, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, cũng đã tiếp nhận và điều trị cho một nữ bệnh nhân là Việt kiều Đức. Khoảng 2 năm trước, bệnh nhân từng phẫu thuật nâng ngực và hút mỡ tạo hình thành bụng. Tuy nhiên, do chưa hài lòng với kết quả, chị tiếp tục thực hiện phẫu thuật thu nhỏ và treo sa trễ ngực tại một cơ sở y tế. Một tháng sau phẫu thuật, bệnh nhân bắt đầu xuất hiện các dấu hiệu sốt nhẹ, sưng đau vùng ngực hai bên, chảy dịch và mủ tại vết mổ.

Trong vòng hai tháng, bệnh nhân đã phải trải qua ba lần phẫu thuật để lấy bỏ túi độn, cắt lọc tổ chức hoại tử và làm sạch ổ áp xe, đồng thời điều trị nhiều đợt kháng sinh liều cao. Tuy nhiên, tình trạng nhiễm trùng vẫn không cải thiện rõ rệt. Kết quả chụp cộng hưởng từ (MRI) tại bệnh viện cho thấy hình ảnh ổ hoại tử và tụ dịch trong nhu mô và khoang dưới tuyến vú hai bên, do bị nhiễm trùng sau phẫu thuật.

Nữ bệnh nhân bị biến chứng, nhiễm trùng nặng sau khi thực hiện phẫu thuật treo sa trễ ngực tại một cơ sở y tế. Ảnh: Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương

Tương tự, bệnh nhân P.T.M.A. (32 tuổi, quê Bắc Ninh, hiện sinh sống tại Hà Nội) đầu năm nay nhận thấy vòng một có dấu hiệu bất thường, hai bên ngực mất cân đối, ngực trái mềm hơn rõ rệt. Tại Bệnh viện Đa khoa Hòe Nhai (Hà Nội), ThS.BS Nguyễn Minh Nghĩa, Phó trưởng khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ, trong quá trình phẫu thuật đã phát hiện túi ngực bên trái đã bị vỡ, chất bên trong tràn ra khoang ngực.

Theo BS. Nghĩa, nguyên nhân gây vỡ túi ngực rất đa dạng, gồm tổn thương túi trong quá trình phẫu thuật, sử dụng dụng cụ không đúng cách hoặc thao tác đặt túi không chuẩn có thể gây trầy xước, làm yếu vỏ túi ngay từ thời điểm phẫu thuật. Ngoài ra, khi khoang đặt túi quá hẹp so với kích thước, túi có thể bị gập hoặc chịu áp lực kéo dài tại một số điểm, gây nứt vỏ túi theo thời gian.

BS. Nghĩa khuyến cáo, người đã nâng ngực cần duy trì thăm khám định kỳ để phát hiện sớm các bất thường. "Thông thường, bệnh nhân nên kiểm tra sau khoảng 5 - 6 năm kể từ khi đặt túi và tiếp tục theo dõi định kỳ mỗi 2 - 3 năm," bác sĩ Nghĩa nhấn mạnh. “Việc lựa chọn cơ sở y tế uy tín, bác sĩ có chuyên môn và tuân thủ theo dõi hậu phẫu giúp đảm bảo an toàn và duy trì kết quả thẩm mỹ lâu dài”.

Theo TS.BS. Nguyễn Hữu Quang, Phó Trưởng khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ và Phục hồi chức năng, Bệnh viện Da liễu Trung ương, ngực là vùng mô lớn, có nhiều mạch máu, hệ bạch huyết và cấu trúc mô tuyến vú phức tạp, trong khi filler không được thiết kế để tiêm với khối lượng lớn vào khu vực này.  Nhiều loại filler dùng để nâng ngực là sản phẩm trôi nổi, không được cấp phép. Việc không thể kiểm soát sự lan tỏa của filler trong mô ngực dễ dẫn đến biến dạng, vón cục và viêm nhiễm kéo dài.

Người đã phẫu thuât thẩm mỹ cần duy trì thăm khám định kỳ để phát hiện sớm các bất thường. Ảnh: Bệnh viện đa khoa Hòe Nhai

Đáng lo ngại, ngay cả khi phẫu thuật, việc lấy filler ra hoàn toàn cũng rất khó và không đảm bảo phục hồi mô như ban đầu. Theo các chuyên gia, giải pháp nâng ngực an toàn hiện nay vẫn là phẫu thuật đặt túi ngực đạt chuẩn y khoa, được thực hiện tại bệnh viện được cấp phép, do bác sĩ phẫu thuật tạo hình có chứng chỉ hành nghề trực tiếp thực hiện, với quy trình vô trùng, theo dõi và bảo đảm rõ ràng.

Tại Hội thảo “Thẩm mỹ an toàn: Từ pháp lý đến thực hành y khoa” vừa qua, ­Chủ tịch Hội phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ TP.HCM ,PGS.TS.BS Nguyễn Thanh Vân cho biết: "Phẫu thuật thẩm mỹ là lĩnh vực đặc thù dành cho người khỏe mạnh nhằm tối ưu ngoại hình, kỳ vọng của khách hàng rất cao và yêu cầu gần như không được phép xảy ra rủi ro. Tuy nhiên, thực tế cho thấy biến chứng trong thẩm mỹ đang gia tăng, trở thành vấn đề đáng lo ngại của y tế công cộng tại Việt Nam".

Theo thống kê, mỗi năm Việt Nam có khoảng 250.000 ca phẫu thuật thẩm mỹ, với số ca biến chứng từ 25.000 - 35.000 trường hợp. Trong đó, biến chứng vùng mũi chiếm tỷ lệ cao nhất với 42,6%, tiếp theo là vùng mặt (20%) và ngực (18%). Biến chứng được phân thành nhiều mức độ, từ nhẹ như bầm tím, tụ dịch đến nặng như nhiễm trùng hoại tử, suy đa cơ quan, sốc phản vệ hay tử vong.

Mỗi năm Việt Nam có khoảng 250.000 ca phẫu thuật thẩm mỹ, với số ca biến chứng từ 25.000 - 35.000 trường hợp. Ảnh: VTV

Đặc biệt, huyết khối tĩnh mạch sâu - thuyên tắc phổi (DVT-PE) có nguy cơ tử vong từ 21 - 23,1%, thường gặp trong phẫu thuật tạo hình thành bụng. Hội chứng thuyên tắc mỡ sau hút mỡ, cấy mỡ khối lượng lớn cũng có tỷ lệ tử vong cao, từ 10 - 15%. Ngoài ra, các biến chứng nguy hiểm khác, gồm thủng tạng rỗng khi hút mỡ gây viêm phúc mạc, ngộ độc thuốc tê do dùng quá liều... Với thẩm mỹ nội khoa như tiêm filler, bệnh nhân có thể bị tắc mạch, đột quỵ hoặc mù lòa nếu thực hiện sai kỹ thuật.

Hoài Phương














Home Icon VỀ TRANG CHỦ