🔍
Chuyên mục: Giáo dục

Ký ức vẹn nguyên về lớp học thời chiến

53 phút trước
Trong tiết thu tháng Mười se lạnh, những người con Hà Nội năm xưa lại trào dâng kỷ niệm không quên, về những năm tháng thầy trò “đầu đội mũ rơm, băng qua đạn bom đến lớp”. Qua ký ức của họ, giai đoạn 1965 - 1972, đất nước chiến tranh ác liệt nhưng hành trình tìm kiếm tri thức của thầy trò miền Bắc tại các vùng sơ tán vô cùng tự hào.

Ảnh tư liệu minh họa

Lớp học nằm dưới lòng đất

Năm 1965, khi vừa tròn 16 tuổi, PGS.TS Nguyễn Thị Huệ (Nhà giáo ưu tú, nguyên Trưởng khoa Di sản văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội), bắt đầu theo học Trường Lý luận nghiệp vụ văn hóa, tiền thân của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội ngày nay. Nhưng chỉ sau 3 ngày nhập học, bà cùng các bạn đã nhận lệnh sơ tán về Yên Dũng, Bắc Giang, nay thuộc thành phố Bắc Ninh.

"Chúng tôi đi bộ từ Hà Nội đến Yên Dũng. Trên đường đi, nếu theo đường giao thông thì có những hầm để trú ẩn khi máy bay Mỹ đến. Nếu không đi theo những con đường ấy, chúng tôi chủ yếu men theo đường núi", bà Huệ nhớ lại. 

Hành trang của người sinh viên khi ấy chỉ có chiếc ba lô bộ đội cũ, hai bộ quần áo, một quyển vở bằng giấy đen, bút máy và đôi dép cao su. Đến nơi sơ tán, thầy và trò chưa thể bắt đầu việc học ngay mà phải cùng nhau dựng trường, dựng lớp, chuẩn bị chỗ ở. Tranh, tre, nứa, lá được tận dụng để dựng lớp; những khu vực rìa rừng, nơi có cây cối che phủ được lựa chọn để hạn chế nguy hiểm khi máy bay xuất hiện.

Lớp học khi ấy nằm dưới lòng đất, chỉ phần mái nhô lên trên mặt đất. Bàn ghế được ghép từ những thanh tre đơn sơ; phấn viết được phân phối theo tháng, giấy cũng phải sử dụng theo định mức. Sinh viên chỉ học buổi sáng còn buổi chiều sẽ tham gia vào tăng gia sản xuất: Trồng rau, nuôi gà... để bổ sung thực phẩm cho nhà bếp, cải thiện bữa ăn.

PGS.TS - Nhà giáo ưu tú  Nguyễn Thị Huệ chia sẻ tại buổi tọa đàm

Nhớ lại những năm tháng gian khó ấy, điều bà Huệ luôn khắc ghi và trân trọng là tình cảm của người dân địa phương và sự đùm bọc, sẻ chia giữa những sinh viên cùng cảnh xa nhà. "Nhân dân địa phương rất tình cảm, họ sẵn sàng đón nhận chúng tôi như những người thân trong gia đình. Đáp lại tình nghĩa ấy, sinh viên sẽ giúp người dân trông trẻ, cho lợn ăn, quét sân, gặt lúa. Cuộc sống ngày ấy, chúng tôi thực sự cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân", bà kể.

Từ lớp học vùng sơ tán, hành trình học tập của bà Huệ tiếp tục mở sang một chặng đường mới. Năm 1971, bà thi đỗ đại học và được Nhà nước cử sang Liên Xô học tập. Sau này, bà trở thành giảng viên, nhà nghiên cứu trong lĩnh vực bảo tàng và được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú năm 2004.

Nhớ về những năm tháng sơ tán (1965 - 1968), bà thú thật, điều đó đã trở thành một phần ký ức theo bà suốt cuộc đời; đồng thời cũng là động lực để bà tiếp tục phấn đấu, sang nước ngoài học tập, tìm kiếm tri thức quý giá để quay trở về phục vụ đất nước. 

Một Hà Nội đỏ lửa đêm cuối năm 1972

Với ông Nguyễn Ngọc Long (nguyên học sinh trường Cát Linh đi sơ tán năm 1972, nguyên cán bộ Bảo tàng Hà Nội), ký ức về lớp học thời chiến bắt đầu từ cuộc chia xa khi còn nhỏ. Năm 1972, khi mới khoảng 8 - 9 tuổi, đang là học sinh trường Tiểu học Cát Linh, ông cùng chị gái và người em còn hơn một tuổi phải rời Hà Nội về Chương Mỹ sơ tán, sống cùng ông bà. Bố mẹ ông vẫn ở lại Thủ đô công tác.

Khi ấy, ông chưa thể hiểu đầy đủ về chiến tranh hay ý nghĩa của việc sơ tán. Ông chỉ nhớ người dân sử dụng nhiều phương tiện để rời thành phố, từ xe đạp, xích lô đến xe bò kéo. Có phương tiện gì, họ dùng phương tiện ấy để đưa gia đình đến nơi an toàn hơn.

Vừa về nơi sơ tán được 1, 2 ngày, ông Long đã được ông bà đưa đi học. Ngôi trường của ông không phải một ngôi trường được dựng mới, mà là một ngôi miếu nằm giữa đồng, được tận dụng làm lớp học.

Ông vẫn nhớ, bên trong miếu vẫn còn những dấu tích của không gian thờ tự. Học sinh ngồi trên những chiếc bàn dài, ghế băng đã cũ, mỗi ghế có 4, 5 bạn. Một lớp có khoảng 40 - 50 học sinh, quần áo và giày dép đều thiếu thốn. Nhiều bạn đến trường bằng chân đất.

Sau khoảng một tháng, cô giáo tổ chức cho học sinh đào hầm chữ A. Những đứa trẻ cùng tham gia công việc, sử dụng tre, nứa, lá và rơm rạ để làm nơi trú ẩn. Việc học không chỉ là đọc, viết hay tiếp thu kiến thức trên lớp. Thầy cô còn hướng dẫn học sinh cách trú ẩn khi có bom đạn, sơ cứu vết thương và đan mũ rơm...

Thầy giáo Bùi Dương Hòa (giữa) và ông Nguyễn Ngọc Long (bên trái) chia sẻ ký ức về những lớp học, những ngày sơ tán năm 1972

Nhớ lại những năm tháng ấy, ký ức sâu đậm nhất với ông là đêm 26/12/1972, khi Mỹ đánh bom Khâm Thiên. Từ hầm trú ẩn, ông cùng mọi người bước ra ngoài và nhìn về phía thành phố đỏ rực lửa. Và lời ông ngoại khi ấy: "Hà Nội có khi tan tành rồi", cho đến nay mỗi khi nhớ đến, vẫn tựa như nỗi xót xa ẩn sâu được cất giấu trong tâm hồn trẻ thơ của ông Long.

Ông Long rưng rưng thừa nhận, suốt nhiều thập kỷ trôi qua nhưng dấu ấn tuổi thơ đến lớp giữa mưa bom, bão đạn luôn là vùng ký ức không thể nào quên trong cuộc đời ông.  

Tinh thần "Ba sẵn sàng" giữ chân thầy giáo trẻ

Năm 1972, đế quốc Mỹ tiến hành tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai. Giữa những biến động của thời cuộc, việc duy trì trường lớp, bảo đảm học sinh được tiếp tục học tập vẫn là nhiệm vụ quan trọng. Trong giai đoạn ấy, có những giáo viên trẻ vừa rời giảng đường đại học đã nhận nhiệm vụ đến những vùng còn nhiều khó khăn, bắt đầu sự nghiệp trong điều kiện khác xa những gì họ từng hình dung. Ông Bùi Dương Hòa (nguyên giáo viên dạy Hóa, trường THPT Yên Thế, tỉnh Hà Bắc cũ), là người như vậy.

Tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1972, ông Hòa được phân công về giảng dạy môn Hóa học tại trường THPT Yên Thế (tỉnh Hà Bắc cũ, nay thuộc thành phố Bắc Ninh). Lựa chọn đến một địa phương xa Thủ đô để giảng dạy không phải vì ông không có cơ hội ở lại thành phố. Ông nhắc đến tinh thần "Ba sẵn sàng" của thanh niên thời ấy và quan niệm rằng tuổi trẻ cần nhận lấy phần việc khó khăn khi đất nước đang cần mình. 

Nhưng điều khiến ông thực sự gắn bó với Yên Thế không chỉ là trách nhiệm của một người được phân công công tác mà đó còn là tình yêu thương được vun đắp từ những gì ông chứng kiến ở học trò hàng ngày.

Theo lời kể của ông Hòa, nhiều học sinh phải đi bộ từ 2-3 km, thậm chí 7-8 km để đến trường. Những em có xe đạp cũng chưa chắc thuận tiện hơn. Ông nhớ những chiếc xe đã cũ, bàn đạp gần như không còn, chỉ còn trơ trục. Ông gọi vui đó là những "chiếc xe đạp bút chì".

Đến trường đã khó, việc học còn phải đi cùng với việc làm để duy trì việc học. Ông kể, có những học sinh sau giờ học buổi sáng lại mang theo dao, đi vào rừng chặt củi để có thêm lương thực, thực phẩm. Những học trò dù vất vả vẫn kiên trì đến lớp, vừa cố gắng tiếp thu kiến thức, vừa phải tự xoay xở trong hoàn cảnh còn nhiều thiếu thốn. "Lòng yêu thương lúc đó đã giữ tôi ở lại Bắc Giang, ở lại Hà Bắc", ông Hòa chia sẻ.

Các nhân chứng tham dự tọa đàm nhận hoa chúc mừng từ lãnh đạo Bảo tàng Hà Nội

Lớp học nơi sơ tán được đào sâu vào sườn đồi, mỗi lớp có khoảng 30 - 35 học sinh. Không gian giảng dạy còn thiếu thốn nhưng thầy và trò vẫn duy trì việc dạy và học. 

Nơi ở của giáo viên cũng vô cùng giản dị. Hai người được bố trí chung một phòng, buổi tối dùng đèn dầu để soạn giáo án. Trong ánh sáng leo lét, họ chụm đầu vào nhau chuẩn bị bài cho ngày hôm sau.

Nhắc lại kỷ niệm này, ông Hòa bảo, ngọn đèn dầu không chỉ giúp soi sáng căn phòng, mà còn gợi nhắc tình yêu nghề và tình đồng nghiệp đã nâng đỡ những người giáo viên trẻ như ông trong thời gian khó khăn. 

Sau năm 1972, ông Hòa tiếp tục giảng dạy tại Trường THPT Yên Thế đến năm 1993, rồi chuyển sang công tác tại Trường Phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Bắc Giang (cũ) cho đến năm 2010 thì nghỉ công tác.

Thu Trang

















Home Icon VỀ TRANG CHỦ