Ký nhận nợ hơn 31 tỉ, ra tòa nói 'viết để giúp chủ nợ'
TAND TP Cần Thơ vừa qua đã phát hành bản án phúc thẩm về tranh chấp hợp đồng vay tài sản (hơn 31 tỉ) giữa nguyên đơn là bà LTN và bị đơn là vợ chồng bà NĐAT.
Tòa sơ thẩm triệu tập nhưng vắng mặt
Theo bản án, bà N trình bày vào khoảng tháng 2-2021 bà chuyển tiền cho bà T mượn nhiều lần và được trả đầy đủ. Tuy nhiên, từ năm 2023 đến nay, bà T tiếp tục mượn để đáo hạn trả ngân hàng nhưng không thanh toán lại cho bà. Bà T hứa hẹn vay tiền để trả nhưng không thực hiện.

Ảnh minh họa: AI
Ngày 21-10-2024, hai bên cộng lại việc chuyển tiền qua tài khoản cho bà T lên tới hơn 31 tỉ đồng. Bà T tiếp tục hẹn nhưng không thanh toán cho bà như lời hứa.
Nhận thấy bà T và chồng không thực hiện như lời hứa nên bà khởi kiện yêu cầu tòa án xem xét giải quyết buộc bà T và chồng có nghĩa vụ thanh toán cho bà số tiền hơn 31 tỉ và tiền lãi theo thời điểm chuyển tiền vào tài khoản của bà T cho đến nay theo quy định của ngân hàng.
Sau khi thụ lý vụ kiện, tòa án có triệu tập bị đơn bà T và chồng bà để tham gia phiên hòa giải nhưng các bị đơn vắng mặt.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đại diện theo ủy quyền của bị đơn yêu cầu hoãn phiên tòa để tạo điều kiện cho các bên gặp nhau hòa giải, yêu cầu nguyên đơn cung cấp chứng từ các giao dịch chuyển tiền cụ thể cho bà T.
Ngoài ra, các lần chuyển khoản qua lại, bà T có nhờ tài khoản của mẹ và em trai nên yêu cầu đưa hai người này tham gia tố tụng. Việc vay mượn giữa bà T và bà N thì chồng bà T không biết nên không đồng ý cùng bà T trả khoản vay.
Xử sơ thẩm, TAND khu vực 1 – Cần Thơ đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà T phải trả cho bà N số tiền hơn 31 tỉ. Sau đó, cả nguyên đơn và bị đơn đều có kháng cáo.
Bị đơn bà T kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, giao lại cho TAND khu vực 1-Cần Thơ giải quyết lại theo hướng buộc nguyên đơn phải cung cấp danh sách số lần chuyển tiền chi tiết để ra được con số hơn 31 tỉ.
Nguyên đơn bà N kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa lại một phần bản án sơ thẩm, theo hướng buộc chồng bà T có trách nhiệm và nghĩa vụ liên đới cùng bà T trả cho nguyên đơn số tiền hơn 31 tỉ, đồng thời làm rõ việc bà T đã sử dụng số tiền vào mục đích gì để có biện pháp thu hồi trả lại cho nguyên đơn.
Không có chứng cứ nhận nợ để giúp đỡ
Xử phúc thẩm, TAND TP Cần Thơ dẫn các căn cứ để khẳng định tòa án sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt cho vợ chồng bà T. Việc không tiến hành được phiên hòa giải là do ông, bà vắng mặt. Ông, bà tự từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do vậy, việc đại diện theo ủy quyền của bị đơn cho rằng tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm về tố tụng là không có căn cứ.
Về nội dung, tòa dẫn nội dung giấy mượn tiền, thể hiện bà T mượn của bà N tổng cộng hơn 31 tỉ. Bà T thừa nhận giấy mượn tiền là do bà tự viết và tự ký tên nhưng do khi đó bà N nhờ bà giúp để đối phó với những người mà bà N đã vay tiền chứ thực chất số tiền ghi nhận tại giấy mượn tiền là không có thật.
Lời trình bày của bà T không được phía bà N thừa nhận, bà T cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc ký tên vào biên nhận nợ để giúp đỡ bà N. Hơn nữa, tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền của bà T có nhiều lời khai mâu thuẫn, khi thì nói số tiền hơn 31 tỉ là bao gồm cả vốn và lãi, khi thì khai rằng có nợ nhưng số tiền trên giấy mượn không chính xác.
“Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định tính đến ngày 21-10-2024, bà T còn nợ bà N là đúng sự thực” – bản án nêu.
Các sao kê từ tài khoản ngân hàng được nộp kèm theo bản tự khai của bà T thể hiện thời gian giao dịch diễn ra từ năm 2017 đến năm 2020, tức đều trước khi bà T viết giấy mượn tiền. Vì vậy, tòa xác định có căn cứ bà T chưa hoàn trả cho bà N hơn 31 tỉ nên tòa sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà N về việc buộc bà T trả lại số tiền đã vay này là có căn cứ.
Đối với kháng cáo của nguyên đơn, tòa xác định giấy mượn tiền chỉ có bà T ký nhận nợ, chồng bà không tham gia ký kết, không ủy quyền cho bà trong giao dịch với bà N. Nguyên đơn cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ thể hiện ông này biết việc bà T vay tiền của bà N.
Đồng thời không có căn cứ để xác định bà T vay tiền của bà N nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình hoặc nhằm mục đích phục vụ việc kinh doanh chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 27, khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Vì vậy, tòa sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc chồng bà T liên đới cùng bà T trả số tiền còn nợ là có căn cứ. Đồng thời tòa phúc thẩm cũng đề nghị tòa sơ thẩm rút kinh nghiệm vì phần quyết định không tuyên việc không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc chồng bà T liên đới cùng bà T trả nợ.
Từ các phân tích, tòa phúc thẩm đánh giá nguyên đơn, bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới nên bác kháng cáo của cả nguyên đơn và bị đơn; tuyên xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N, buộc bà T trả cho bà N hơn 31 tỉ.
NHẪN NAM
17 phút trước
25 phút trước
3 giờ trước
11 phút trước
5 phút trước
7 phút trước
15 phút trước
20 phút trước
25 phút trước
39 phút trước
41 phút trước
49 phút trước