Kỳ 4: Nhân tài, dữ liệu và hạ tầng - Ba trụ cột kiến tạo nền khoa học mới
Nhân tài chỉ ở lại khi nhìn thấy tương lai nghiên cứu
Thể chế thông thoáng có thể mở đường cho khoa học phát triển, nhưng để tạo nên những đột phá về tri thức, yếu tố quyết định vẫn là con người. Lịch sử khoa học thế giới cho thấy, phía sau mỗi công trình làm thay đổi nhân loại luôn là những nhà khoa học được làm việc trong môi trường đủ tự do để sáng tạo, đủ ổn định để theo đuổi các nghiên cứu dài hạn và đủ niềm tin để dấn thân vào những bài toán lớn.
Đối với Việt Nam, câu chuyện phát triển nguồn nhân lực khoa học không còn đơn thuần là đào tạo thêm bao nhiêu tiến sĩ hay thu hút được bao nhiêu chuyên gia. Điều quan trọng hơn là xây dựng được một hệ sinh thái nghiên cứu khiến người tài muốn ở lại, người Việt ở nước ngoài muốn quay về hoặc sẵn sàng hợp tác lâu dài, còn thế hệ trẻ nhìn thấy con đường phát triển nghề nghiệp ngay trên chính quê hương mình.
Trao đổi với PV Báo Pháp luật Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Hữu Thanh - Hiệu trưởng Trường Điện - Điện tử (Đại học Bách khoa Hà Nội) cho rằng, thu nhập, cơ sở vật chất hay thủ tục hành chính đều là những yếu tố quan trọng, nhưng chưa phải gốc rễ của vấn đề.
Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Thanh, điều các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà khoa học trẻ, cần hơn cả là một môi trường học thuật đủ mạnh để họ có thể phát triển lâu dài. Đó là nơi họ được làm việc với những đồng nghiệp xuất sắc, được tham gia các nhóm nghiên cứu mạnh, được tiếp cận những bài toán khoa học có ý nghĩa và được tự do theo đuổi những ý tưởng mới. “Đó là động lực rất lớn, đôi khi còn quan trọng hơn cả sự chênh lệch về thu nhập”, PGS.TS Nguyễn Hữu Thanh nhấn mạnh.
GS.TS Chu Hoàng Hà - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết: Khoa học vốn là hành trình tích lũy kéo dài nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Muốn hình thành một nhóm nghiên cứu mạnh hay mở ra một hướng nghiên cứu mới đều cần sự ổn định và tầm nhìn dài hạn. Nếu các nhà khoa học luôn phải chạy theo những nhiệm vụ ngắn hạn để duy trì hoạt động thì rất khó tạo ra những công trình có giá trị đột phá.

GS.TS Chu Hoàng Hà trao đổi với PV Báo Pháp luật Việt Nam.
Bên cạnh đó, cơ hội phát triển nghề nghiệp cũng là yếu tố quyết định khả năng giữ chân nhân tài. Người trẻ cần nhìn thấy một lộ trình rõ ràng từ nghiên cứu sinh, sau tiến sĩ đến trưởng nhóm nghiên cứu hay giáo sư; quan trọng hơn là được giao những bài toán lớn để khẳng định năng lực và tạo dựng dấu ấn khoa học của riêng mình.
Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Thanh, muốn giải quyết bài toán nhân lực khoa học cần một cách tiếp cận đồng bộ. Trước hết là tiếp tục xây dựng các trường đại học nghiên cứu và trung tâm nghiên cứu mạnh với nguồn đầu tư ổn định, dài hạn để hình thành môi trường học thuật có sức cạnh tranh quốc tế. Cùng với đó là đổi mới cơ chế quản lý theo hướng thông thoáng, lấy kết quả nghiên cứu làm thước đo thay vì ràng buộc bởi những quy trình hành chính cứng nhắc.
Một yêu cầu quan trọng khác là trao quyền tự chủ thực chất cho các tổ chức nghiên cứu và các trưởng nhóm nghiên cứu, không chỉ trong học thuật mà cả trong việc chủ động sử dụng các nguồn lực được giao. Khi đó, cơ chế quản lý sẽ chuyển từ kiểm soát quá trình sang đánh giá bằng kết quả và tác động của nghiên cứu đối với xã hội.
Ở góc độ rộng hơn, PGS.TS Nguyễn Hữu Thanh cho rằng, trong thời đại khoa học toàn cầu, mục tiêu không phải là giữ mọi nhà khoa học ở lại bằng mọi giá. Điều quan trọng là xây dựng được một hệ sinh thái đủ hấp dẫn để cộng đồng trí thức Việt Nam trên toàn thế giới có thể tham gia nghiên cứu, giảng dạy, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo dưới nhiều hình thức khác nhau.
“Điều quan trọng không phải nhà khoa học đang ở đâu, mà là tri thức của họ đang được sử dụng ở đâu và tạo ra giá trị cho ai. Nếu xây dựng được một hệ sinh thái nghiên cứu đủ hấp dẫn và một cơ chế kết nối hiệu quả, chúng ta không chỉ hạn chế được “chảy máu chất xám” mà còn có thể biến nguồn lực trí thức toàn cầu của người Việt Nam thành lợi thế cạnh tranh của quốc gia.”
Đó cũng là xu hướng mà nhiều quốc gia có nền khoa học phát triển đang theo đuổi: chuyển từ tư duy “giữ người” sang “kết nối và phát huy tri thức”. Bởi trong kỷ nguyên đổi mới sáng tạo, sức mạnh của một quốc gia không chỉ được đo bằng số lượng nhà khoa học đang làm việc trong nước, mà còn bằng khả năng huy động và khai thác hiệu quả mạng lưới trí thức trên phạm vi toàn cầu.
Giữ chân người tài vì thế không chỉ là bài toán đãi ngộ, mà là bài toán kiến tạo một hệ sinh thái nghiên cứu đủ sức nuôi dưỡng khát vọng khoa học. Nhưng trong kỷ nguyên AI, chỉ con người thôi là chưa đủ. Để những ý tưởng lớn trở thành các phát minh lớn, khoa học còn cần một nguồn lực mới đang được nhiều quốc gia coi là tài nguyên chiến lược: dữ liệu.
Dữ liệu - “điện năng” của nền khoa học thời AI
Nếu nhân tài là chủ thể tạo ra tri thức thì dữ liệu đang trở thành “nguồn nhiên liệu” của nền khoa học hiện đại. Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo (AI), sức mạnh của một quốc gia không còn được quyết định chỉ bởi tài nguyên thiên nhiên hay quy mô vốn đầu tư, mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng sở hữu, khai thác và làm chủ các nguồn dữ liệu lớn.
Thực tế cho thấy, hầu hết những bước tiến vượt bậc của AI gần đây đều được xây dựng trên nền tảng của các kho dữ liệu khổng lồ. Không có dữ liệu, những thuật toán tiên tiến nhất cũng không thể học hỏi, phân tích hay tạo ra các tri thức mới. Chính vì vậy, nhiều quốc gia đã coi dữ liệu là một loại hạ tầng chiến lược, được đầu tư với tầm nhìn dài hạn tương tự như điện, giao thông hay viễn thông trong các giai đoạn phát triển trước đây. Không còn là nguồn lực hỗ trợ, dữ liệu đã trở thành hạ tầng chiến lược của khoa học hiện đại và là “nhiên liệu” của mọi mô hình AI.
Trao đổi với PV Báo Pháp luật Việt Nam, PGS.TS Trần Quốc Bình - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) nhận định, dữ liệu ngày nay đã trở thành một loại tài nguyên chiến lược của quốc gia.
“Nếu điện năng là yếu tố tạo ra cuộc Cách mạng công nghiệp thế kỷ XX thì dữ liệu đang đóng vai trò tương tự đối với nền kinh tế tri thức và cuộc cách mạng AI của thế kỷ XXI. Một nhà máy hiện đại không thể vận hành nếu thiếu điện; tương tự, các mô hình AI và nhiều hướng nghiên cứu khoa học hiện đại không thể phát triển nếu thiếu dữ liệu chất lượng cao.”
Theo PGS.TS Trần Quốc Bình, dữ liệu không chỉ là đầu vào của nghiên cứu mà còn là một sản phẩm khoa học có giá trị. Xu hướng của thế giới hiện nay là phát triển khoa học mở, dữ liệu mở và chia sẻ dữ liệu nhằm thúc đẩy nghiên cứu liên ngành, rút ngắn thời gian tạo ra tri thức mới và nâng cao hiệu quả đổi mới sáng tạo.
Từ thực tiễn đó, ông cho rằng Việt Nam cần sớm xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia dùng chung cho nghiên cứu khoa học; đồng thời ban hành các chuẩn dữ liệu thống nhất, cơ chế chia sẻ, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Quan trọng hơn, các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý cần được kết nối trong một hệ sinh thái dữ liệu thống nhất để biến nguồn tài nguyên đặc biệt này thành động lực phát triển khoa học và công nghệ.
Ở góc nhìn tương đồng, PGS.TS Nguyễn Hữu Thanh - Hiệu trưởng Trường Điện - Điện tử (Đại học Bách khoa Hà Nội) cho rằng, trong thời đại AI, dữ liệu đã trở thành một hạ tầng chiến lược của nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo.
PGS.TS Nguyễn Hữu Thanh cho biết: AI chỉ có thể phát triển khi được “nuôi dưỡng” bằng các kho dữ liệu đủ lớn, đủ chất lượng và được chia sẻ một cách hiệu quả. Vì vậy, việc xây dựng các kho dữ liệu dùng chung theo từng lĩnh vực như y tế, giáo dục, giao thông, môi trường hay sản xuất là yêu cầu cấp thiết để thúc đẩy nghiên cứu và phát triển các ứng dụng AI mang dấu ấn Việt Nam.
Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Thanh, dữ liệu cũng là lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm. Càng mở rộng khả năng chia sẻ thì yêu cầu về bảo mật, an toàn thông tin và bảo vệ quyền riêng tư càng phải được đặt lên hàng đầu.

PGS.TS Nguyễn Hữu Thanh - Hiệu trưởng Trường Điện - Điện tử (Đại học Bách khoa Hà Nội) trao đổi thông tin với PV Báo Pháp luật Việt Nam.
“Xây dựng kho dữ liệu quốc gia không chỉ là bài toán công nghệ mà còn là bài toán về thể chế và quản trị. Chúng ta cần có các quy định rõ ràng về quyền sở hữu dữ liệu, quyền truy cập, trách nhiệm sử dụng và cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân, để vừa khai thác được giá trị của dữ liệu, vừa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và tổ chức.”
Theo các chuyên gia, khi dữ liệu trở thành “hạ tầng mềm” của nền kinh tế số thì vấn đề an ninh dữ liệu cũng cần được nhìn nhận với tầm quan trọng tương tự như an ninh năng lượng. Chất lượng dữ liệu, tính chính xác, mức độ đầy đủ và nguy cơ sai lệch trong các tập dữ liệu cần được kiểm soát, đánh giá thường xuyên để hạn chế những rủi ro có thể ảnh hưởng đến quá trình hoạch định chính sách, nghiên cứu khoa học và phát triển kinh tế - xã hội.
Đầu tư cho dữ liệu vì thế không chỉ là đầu tư cho chuyển đổi số, mà còn là đầu tư cho năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chủ quyền tri thức quốc gia. Quốc gia nào xây dựng được hạ tầng dữ liệu mạnh, làm chủ công nghệ xử lý dữ liệu lớn và sở hữu đội ngũ nhân lực chất lượng cao sẽ có lợi thế cạnh tranh vượt trội trong cuộc đua khoa học và công nghệ của thế kỷ XXI.
Nếu nhân tài là chủ thể tạo ra tri thức thì dữ liệu chính là dòng chảy nuôi dưỡng tri thức. Nhưng để hai nguồn lực ấy phát huy tối đa giá trị, vẫn cần một nền tảng vật chất đủ mạnh gồm các phòng thí nghiệm hiện đại, trung tâm nghiên cứu xuất sắc và những trường đại học nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế. Đó là trụ cột thứ ba của nền khoa học mới.
Xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu đủ sức cạnh tranh toàn cầu
Nhưng nhân tài và dữ liệu sẽ không thể tạo nên những đột phá nếu thiếu một hệ sinh thái đủ mạnh để kết nối, nuôi dưỡng và chuyển hóa tri thức thành công nghệ. Đó là vai trò của các trường đại học nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu xuất sắc, phòng thí nghiệm hiện đại và mạng lưới hợp tác trong nước, quốc tế.
Theo các chuyên gia, trong bối cảnh cạnh tranh khoa học và công nghệ ngày càng gay gắt, đầu tư cho từng đề tài riêng lẻ sẽ không còn tạo ra những bước nhảy vọt. Điều Việt Nam cần hướng tới là xây dựng một hệ sinh thái nghiên cứu hoàn chỉnh, nơi các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý được kết nối trong cùng một chuỗi đổi mới sáng tạo; các nhóm nghiên cứu mạnh được trao quyền tự chủ thực chất; còn các chương trình khoa học chiến lược được đầu tư ổn định trong nhiều năm để theo đuổi những bài toán lớn của quốc gia.
Đó cũng là cách nhiều quốc gia có nền khoa học phát triển đã xây dựng các “cực tăng trưởng khoa học”, nơi trường đại học nghiên cứu, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và Nhà nước cùng tạo nên một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh. Chính sự cộng hưởng giữa các chủ thể này đã giúp rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu cơ bản đến công nghệ, từ phòng thí nghiệm đến thị trường và từ tri thức đến năng lực cạnh tranh quốc gia.
Trao đổi với PV Báo Pháp luật Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Hữu Thanh - Hiệu trưởng Trường Điện - Điện tử (Đại học Bách khoa Hà Nội) cho rằng, để khoa học Việt Nam phát triển bền vững, trước hết cần tiếp tục xây dựng các trường đại học nghiên cứu và các trung tâm nghiên cứu mạnh với nguồn đầu tư ổn định, dài hạn nhằm hình thành môi trường học thuật có sức cạnh tranh quốc tế.
Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Thanh, cùng với việc đầu tư cho cơ sở vật chất và phòng thí nghiệm hiện đại, cơ chế tài trợ cũng cần được đổi mới theo hướng lấy chất lượng và tác động của nghiên cứu làm thước đo, thay vì đặt nặng các thủ tục hành chính hay những kết quả ngắn hạn. Các tổ chức nghiên cứu và trưởng nhóm nghiên cứu cần được trao quyền tự chủ thực chất trong học thuật, tài chính và sử dụng nguồn lực để chủ động theo đuổi các hướng nghiên cứu có tính chiến lược.
Bên cạnh đó, hệ sinh thái khoa học cũng không thể phát triển nếu thiếu sự gắn kết giữa các trường đại học, viện nghiên cứu với doanh nghiệp. Khi các kết quả nghiên cứu được chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm và dịch vụ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, khoa học cơ bản mới thực sự hoàn thành vai trò là nền tảng của đổi mới sáng tạo. Đây cũng là xu hướng mà nhiều quốc gia phát triển đang theo đuổi nhằm rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường.
Một cấu phần quan trọng khác của hệ sinh thái nghiên cứu là mạng lưới hợp tác quốc tế và cộng đồng trí thức Việt Nam ở nước ngoài. Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Thanh, trong thời đại khoa học toàn cầu, điều cần hướng tới không phải là giữ mọi nhà khoa học ở lại bằng mọi giá, mà là xây dựng cơ chế đủ linh hoạt để các nhà khoa học Việt Nam trên khắp thế giới có thể tham gia nghiên cứu, giảng dạy, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo dưới nhiều hình thức khác nhau.

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tổ chức chương trình tọa đàm "Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo - nền tảng cho phát triển công nghệ chiến lược và Triển lãm sách".
“Điều quan trọng không phải nhà khoa học đang ở đâu, mà là tri thức của họ đang được sử dụng ở đâu và tạo ra giá trị cho ai. Nếu xây dựng được một hệ sinh thái nghiên cứu đủ hấp dẫn và một cơ chế kết nối hiệu quả, chúng ta không chỉ hạn chế được “chảy máu chất xám” mà còn có thể biến nguồn lực trí thức toàn cầu của người Việt thành lợi thế cạnh tranh của quốc gia.”
Nhận định đó cũng phản ánh xu hướng phát triển của nhiều nền khoa học tiên tiến trên thế giới. Thay vì chỉ tập trung ngăn chặn “brain drain” (chảy máu chất xám), nhiều quốc gia đã chuyển sang thúc đẩy “brain circulation” (tuần hoàn chất xám), coi tri thức, kinh nghiệm và mạng lưới hợp tác của đội ngũ trí thức toàn cầu là một nguồn lực chiến lược cho phát triển. Trong kỷ nguyên khoa học mở, sức mạnh của một quốc gia không chỉ được đo bằng số lượng nhà khoa học đang làm việc trong nước, mà còn ở khả năng kết nối, huy động và chuyển hóa hiệu quả nguồn lực tri thức toàn cầu thành động lực phát triển quốc gia.
Lịch sử phát triển của các cường quốc khoa học cho thấy, những quốc gia dẫn đầu chưa bao giờ chỉ đầu tư cho phòng thí nghiệm hay thiết bị. Họ đồng thời xây dựng thể chế cởi mở, nuôi dưỡng nhân tài, phát triển hạ tầng nghiên cứu, làm chủ dữ liệu và hình thành những hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đủ sức cạnh tranh toàn cầu.
Với Việt Nam, khi những rào cản về thể chế đang từng bước được tháo gỡ, bài toán then chốt hiện nay là kiến tạo một hệ sinh thái khoa học nơi tri thức được kết nối, sáng tạo được khơi thông và các trung tâm nghiên cứu đủ sức tạo ra những công nghệ mang dấu ấn quốc gia.
Nhìn từ yêu cầu thực tiễn sau 1 năm 6 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Bức tranh chung về thực hiện Nghị quyết số 57 là chủ trương đã rõ; thể chế đã từng bước hoàn thiện; nguồn lực đã được bố trí; quyết tâm chính trị đã cao; khí thế hành động cũng đã được khơi dậy. Nhưng kết quả thực tế chưa tương xứng”.
Thông điệp này cho thấy rõ khoảng cách giữa nền tảng chính sách và hiệu quả triển khai, đồng thời đặt ra yêu cầu phải đẩy nhanh quá trình chuyển hóa từ tiềm năng sang kết quả thực chất trong phát triển khoa học và công nghệ. Chỉ khi hệ sinh thái khoa học được vận hành đồng bộ, khoa học cơ bản mới thực sự trở thành bệ phóng cho công nghệ lõi, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Nhưng giá trị của khoa học cơ bản không chỉ dừng lại ở phát triển kinh tế hay làm chủ công nghệ. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu ngày càng gay gắt, khoa học cơ bản còn trở thành nền tảng của năng lực quốc phòng, an ninh, chủ quyền dữ liệu và sức mạnh tổng hợp quốc gia. Đó cũng chính là nội dung của kỳ tiếp theo.
Kỳ 5: Khoa học cơ bản - lá chắn mềm và sức mạnh cứng của quốc gia
Trần Sơn
2 ngày trước
4 giờ trước
2 giờ trước
46 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước