Kiến trúc sư mở đường Hạnh Phúc
Dấu chân người mở lối
Cuối thập niên 1950, phía sau Cổng trời Quản Bạ là một thế giới gần như tách biệt với bên ngoài. Giữa trùng điệp núi đá tai mèo, hơn 8 vạn đồng bào các dân tộc Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc sống trong cảnh thiếu đói, lạc hậu; mọi hoạt động giao thương đều phụ thuộc vào những con đường mòn cheo leo cùng sức người, sức ngựa. Nỗi nhọc nhằn ấy được gửi vào câu thơ: “Quẩy tấu đè vai đè cả cuộc đời/Dấu chân đất in trên đường vạn dặm...”. Hai câu thơ không chỉ phản ánh hiện thực khắc nghiệt của miền đá mà còn chất chứa khát vọng cháy bỏng của đồng bào về một con đường nối liền với miền xuôi.

Đồng chí Phạm Đình Dy, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Tuyên.
Trong bối cảnh đó, Trung ương Đảng và Bác Hồ quyết định mở đường lên Cao nguyên đá, không thể để miền cực Bắc mãi biệt lập. Song, mở đường giữa đại ngàn đá xám là nhiệm vụ chưa từng có tiền lệ. Ngay cả thực dân Pháp trước đó cũng nhiều lần khảo sát nhưng đều bất thành, trong khi bọn thổ phỉ ngạo mạn tung tin rằng: “Bao giờ đá mọc trên đầu người, dê đực biết đẻ thì Chính phủ mới mở được đường lên Đồng Văn”. Được giao nhiệm vụ trực tiếp nghiên cứu, xác định hướng tuyến, ông Phạm Đình Dy, khi ấy là Trưởng ty Giao thông Hà Giang đã thành lập đoàn khảo sát, lặn lội thực địa thiết kế bản vẽ.
Theo ông Hứa Văn Chử, nguyên Phó Ban Chỉ huy công trường đường Hạnh Phúc, thời điểm đó chưa có bản đồ địa hình chi tiết, càng không có các phương tiện khảo sát hiện đại. Đoàn khảo sát do ông Dy phụ trách đã băng rừng, vượt núi liên tục hàng tháng trời. Nhiều đoạn, phải men theo vách đá dựng đứng, bên kia là vực sâu hun hút. Hành trang mang theo chỉ có lương khô, sổ tay, la bàn cùng quyết tâm tìm bằng được phương án tối ưu cho con đường tương lai. Sau nhiều ngày khảo sát, ông Phạm Đình Dy đưa ra hai phương án. Một là mở đường chạy dọc biên giới Việt - Trung, tuyến ngắn hơn, ít phải phá đá, thuận lợi cho thi công.
Hai là đưa qua trung tâm các vùng dân cư nhưng phải đối mặt với muôn vàn khó khăn. Để có thêm cơ sở lựa chọn, tỉnh Hà Giang đã mời hai chuyên gia giao thông từ Trung Quốc sang khảo sát. Phương án mà các chuyên gia đề xuất cũng nghiêng về hướng tuyến men theo biên giới vì tiết kiệm công sức và chi phí. Nhiều ý kiến khi ấy đồng tình với phương án này. Tuy nhiên, ông Phạm Đình Dy đã kiên quyết bảo vệ quan điểm chọn phương án thứ hai.
Theo ông, mở đường trước hết là để phục vụ dân sinh. Đường xương sống không thể chạy xa khu dân cư mà phải đi đến nơi có đồng bào sinh sống, mang ánh sáng văn minh đến với vùng cao, tạo động lực phát triển kinh tế, văn hóa, đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh lâu dài. Ông cũng phân tích, dù phải xuyên qua nhiều núi đá, thi công gian khổ hơn, nhưng nền đường đi trên đá sẽ ổn định, hạn chế sạt lở trong mùa mưa bão.
Bằng tầm nhìn chiến lược và sự quyết đoán của người kỹ sư nặng lòng với miền đá, ông Phạm Đình Dy đã thuyết phục Đảng bộ tỉnh lựa chọn phương án đưa tuyến đường đi vào giữa cao nguyên đá như ngày nay. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, dù đã nhiều lần sửa chữa, nâng cấp, đường Hạnh Phúc vẫn giữ nguyên hướng tuyến ban đầu.

Thanh niên xung phong mở đường Hạnh Phúc với các công cụ thô sơ qua Sủng Là.
Ông Triệu Đức Thanh, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang nhận xét, nếu coi đường Hạnh Phúc là một kỳ tích của ý Đảng, lòng Dân thì ông Phạm Đình Dy chính là người đặt những nét vẽ đầu tiên cho kỳ tích ấy. Tầm nhìn của ông Phạm Đình Dy không chỉ nằm ở kỹ thuật giao thông mà còn ở tư duy phát triển lâu dài. Chính lựa chọn đưa đường đi qua các vùng dân cư đã tạo nên trục phát triển kinh tế - xã hội của vùng Cao nguyên đá đến ngày nay.
Kỳ tích đường Hạnh Phúc
Ngày 10/9/1959, tiếng búa mở đường đầu tiên vang lên, mở đầu cho một trong những công trình giao thông kỳ vĩ nhất trong lịch sử ngành Giao thông Việt Nam. Hơn 1.200 thanh niên xung phong của 6 tỉnh Việt Bắc và 2 tỉnh Hải Dương, Nam Định hội tụ về miền đá. Một đại công trường chưa từng có trong lịch sử giao thông nước ta chính thức hình thành.
Giữa đại công trường xẻ núi, mở đường, kỹ sư Phạm Đình Dy vừa là “kiến trúc sư trưởng” hoạch định hướng tuyến, vừa là người trực tiếp chỉ đạo, tổ chức thi công trên những cung đường hiểm trở nhất. Ông Nguyễn Đức Thiện, Chủ tịch Hội Cựu TNXP tỉnh nhớ lại, ông Dy gần như có mặt ở tất cả các cung đường trọng điểm. Không quản nắng mưa, ông thường xuyên kiểm tra tiến độ, khảo sát địa chất, cùng cán bộ kỹ thuật bàn cách xử lý những “nút thắt” phát sinh.
Những năm ấy, đại công trường mở đường Hạnh Phúc đều trông vào sức người với những dụng cụ thô sơ như búa tạ, xà beng, choòng sắt. Nhiều thanh niên xung phong đôi bàn tay bật máu, chai sần vì ngày này qua ngày khác vật lộn với đá núi. Thiếu nước sinh hoạt, từng ca nước đều được chắt chiu. Giữa muôn vàn gian khó ấy, Ban Chỉ huy công trường đã phát động phong trào thi đua, xây dựng các “kiện tướng” đục lỗ choòng, phá đá, đập đá. Ông Trịnh Văn Đảm, kiện tướng đục lỗ choòng năm đó nhớ lại: “Ngày đó, anh em chúng tôi nghĩ ra cách đổ nước vào lỗ choòng rồi lấy lõi ngô bịt lại.
Nước làm mềm đá, giảm ma sát nên mũi choòng ăn sâu hơn, đỡ tốn sức mà năng suất lại tăng lên đáng kể. Sáng kiến giản dị đó được nhân rộng trên công trường, góp phần đẩy nhanh tiến độ thi công”. Nếu những đoạn tuyến khác đã khó khăn thì đoạn đường dài 21 km từ Đồng Văn sang Mèo Vạc qua đỉnh Mã Pì Lèng thực sự là thử thách lớn nhất. Những vách đá dựng đứng cao hàng trăm mét, phía dưới là vực sâu hun hút và dòng Nho Quế cuộn chảy khiến nhiều người tin rằng không thể mở đường qua nơi này.
Trước thử thách ấy, ông Phạm Đình Dy cùng Ban Chỉ huy công trường đã quyết định thành lập Đội Cơ Dũng - lực lượng đặc biệt gồm những thanh niên gan dạ, khỏe mạnh nhất, đảm nhận nhiệm vụ chinh phục vách đá Mã Pì Lèng. Nhớ lại những tháng ngày chinh phục Mã Pì Lèng, ông Nguyễn Sĩ Quốc, Đội trưởng Đội Cơ Dũng chia sẻ: “Công trường phải chuẩn bị tới 2 tấn dây thừng để căng dọc vách núi. Suốt 11 tháng trời, anh em chúng tôi thay nhau đu dây, treo mình giữa lưng trời để đục lỗ choòng, đặt mìn phá đá. Mỗi ngày chỉ mở thêm được vài xăng-ti-mét đường, nhưng không ai nản chí.
Trước biển đá nghìn năm, chúng tôi tuy nhỏ bé nhưng chưa bao giờ nghĩ sẽ bỏ cuộc”. Tháng 3-1965, đường Hạnh Phúc chính thức thông xe từ Hà Giang lên Mèo Vạc qua gần 6 năm bền bỉ “xẻ núi, mở đường”. Đằng sau kỳ tích ấy là hơn 2,24 triệu ngày công, gần 3 triệu mét khối đất, đá được đào đắp cùng biết bao mồ hôi, máu và tuổi xuân của hàng nghìn thanh niên xung phong, dân công dưới sự chỉ huy, tổ chức của “kiến trúc sư trưởng” Phạm Đình Dy.
Từ con đường Hạnh Phúc, giờ đây đã có hàng ngàn con đường tỉnh, đường huyện, đường xã được kết nối mang no ấm về các bản làng. Ông Hoàng Xuân Đôn, Trưởng Ban quản lý Công viên Địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn cho biết: “Đường Hạnh Phúc là một biểu tượng của tinh thần quyết tâm trong thời đại Hồ Chí Minh về thúc đẩy kinh tế, văn hóa, xã hội đưa miền núi tiến kịp miền xuôi. Chính nhờ con đường này đã kết nối du khách đến các di sản trên vùng Cao nguyên đá.
Hoàng Hà
2 giờ trước
4 phút trước
1 giờ trước
38 phút trước
58 phút trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước