Không gian và ngoại giao mềm: Góc nhìn từ sứ mệnh Artemis II
Theo kế hoạch từ Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA), vào 0h25 ngày 8/4 (giờ Việt Nam), tàu vũ trụ Orion chính thức rời vùng không gian Mặt trăng để đưa bốn phi hành gia trở về Trái đất. Trước đó, tàu vũ trụ này đã thiết lập những dấu mốc quan trọng như tới gần Mặt trăng nhất trong lịch sử (6.550km) và cách xa Trái đất nhất (406.773km).
Thử nghiệm đặc biệt về kỹ thuật, công nghệ và sinh học
Giới chuyên gia nhận định, Artemis II không chỉ là một chuyến bay vào không gian mà còn là phép thử toàn diện đối với các hệ thống công nghệ quan trọng, như điều hướng quỹ đạo, vận hành khoang tàu, điều khiển thủ công và khả năng tái nhập khí quyển – những yếu tố quyết định cho các sứ mệnh dài hạn trong tương lai.
Ông Alec Gallimore - Phó Hiệu trưởng kiêm Giáo sư Kỹ thuật cơ khí & khoa học vật liệu, một chuyên gia về hệ thống đẩy tàu vũ trụ thuộc Đại học Duke (Mỹ) cho hay, Artemis II đánh dấu lần đầu tiên sau hơn 50 năm con người du hành vượt xa khỏi quỹ đạo thấp của Trái đất. Để dễ hình dung, theo chuyên gia này, Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS) hoạt động ở độ cao khoảng 380-400 km so với bề mặt Trái đất, Mặt trăng cách chúng ta khoảng 386.000 km và các phi hành gia Artemis II đã đi xa khoảng 406.773km.

Tên lửa phóng Artemis nặng khoảng 2630 tấn và phần lớn trong số đó là nhiên liệu. Ảnh: NASA
Điều quan trọng nữa là sứ mệnh giúp thử nghiệm các công nghệ then chốt. Để hiểu tại sao việc đưa người lên Mặt trăng hoặc vòng qua thiên thể này lại khó khăn đến vậy, chuyên gia Gallimore đã đưa ra một so sánh. Một máy bay phản lực thương mại bay với tốc độ khoảng 966 km/h, trong khi để đạt được quỹ đạo Trái đất tầm thấp cần khoảng 28.968 km/h. Tuy nhiên, để đến được Mặt trăng, tàu cần đạt tốc độ khoảng 38.624 km/h.
Vì nhu cầu năng lượng của tên lửa tỷ lệ thuận với bình phương vận tốc, điều này làm cho sự khác biệt về lượng nhiên liệu cần thiết tăng lên đáng kể. Được biết, tên lửa phóng Artemis nặng khoảng 2630 tấn và phần lớn trong số đó là nhiên liệu.
Tuy nhiên, những thách thức của Artemis II không chỉ dừng lại ở bài toán kỹ thuật và năng lượng. Khi khoảng cách được kéo giãn ra khỏi quỹ đạo thấp của Trái đất, các giới hạn sinh học của con người cũng bắt đầu bộc lộ rõ hơn trong môi trường không gian sâu.
Dawn Bowles – Phó Giáo sư phẫu thuật và là người dẫn đầu chương trình nghiên cứu do NASA tài trợ về các tác nhân gây căng thẳng trong chuyến bay vào không gian, nhận định: “Một khi phi hành đoàn vượt ra ngoài từ trường Trái đất, họ sẽ mất đi lớp chắn tự nhiên bảo vệ chống lại bức xạ mặt trời. Du hành vũ trụ được biết là có ảnh hưởng đến tim, não, chu kỳ giấc ngủ. Không gian sâu có khả năng làm ảnh hưởng lớn hơn cả những tác động đó theo những cách mà các nhà khoa học chỉ mới bắt đầu tìm hiểu”.

Christina Koch – nữ phi hành gia duy nhất trên tàu Orion, nổi tiếng với kỷ lục thời gian bay liên tục dài nhất của một phụ nữ trong không gian. Ảnh: NASA
Theo chuyên gia này, Artemis II thực sự là một thử nghiệm quan trọng về việc con người sẽ hoạt động an toàn như thế nào trong không gian sâu, trước khi đặt chân lên Mặt trăng trong khoảng thời gian dài hơn và trong các sứ mệnh tương lai như lên Sao Hỏa.
Bà Dawn Bowles cũng tiết lộ một thí nghiệm thú vị được thực hiện cùng phi hành đoàn Artemis II có tên là AVATAR. Cụ thể, AVATAR là một dự án sức khỏe của NASA sử dụng hệ thống cơ quan trên chip được nạp các tế bào sống lấy từ mỗi người trong bốn phi hành gia của Artemis II.
Với kích thước tương đương một ổ USB, những con chip này trải qua cùng điều kiện bức xạ và vi trọng lực như phi hành đoàn, trong khi các nhà khoa học trên Trái đất theo dõi sự thay đổi hoạt động của gen và tế bào trong thời gian thực của mỗi con chip. Mục tiêu của AVATAR là hiểu rõ hơn về tác động sức khỏe của du hành vũ trụ và phát triển y học vũ trụ cá nhân hóa cho các phi hành gia.
Không chỉ dừng ở các dữ liệu sinh học, sứ mệnh này còn mở ra những góc nhìn mới về sự khác biệt giới trong môi trường không gian. Nhiệm vụ này mang tính lịch sử vì lần đầu tiên một nữ phi hành gia - Christina Koch, du hành vượt ra ngoài quỹ đạo Trái đất tầm thấp.
“Chúng ta biết rằng nam và nữ khác nhau về phản ứng tim mạch, độ nhạy cảm với bức xạ và điều hòa chất lỏng. Việc thu thập thông tin này sẽ đảm bảo các chuyến du hành vũ trụ an toàn hơn và thông minh hơn trong tương lai”, bà Dawn Bowles nhấn mạnh.
Sự thay đổi chính sách và ngoại giao mềm

Phi hành gia Jeremy Hansen (ngoài cùng bên phải) tới từ Cơ quan Vũ trụ Canada. Ảnh: NASA
Từ góc độ chính trị, ông Giovanni Zanalda - Giáo sư thực hành chính sách công kiêm Giám đốc Phòng thí nghiệm Ngoại giao Không gian của Đại học Duke, nhấn mạnh vai trò mà Artemis II mang lại trong việc xây dựng sự hiện diện bền vững của con người trên Mặt trăng, thay vì chỉ dừng lại ở những chuyến thám hiểm mang tính biểu tượng như trước đây.
Sứ mệnh này cũng phản ánh sự thay đổi trong thiết kế chính sách, xây dựng ảnh hưởng thông qua hợp tác. Thứ nhất, về nhân sự, một trong bốn phi hành đoàn không phải là công dân Mỹ. Ông Jeremy Hansen là chuyên gia tới từ Cơ quan Vũ trụ Canada.
Thứ hai, ở cấp độ công nghệ, Artemis II không phải là sản phẩm của một hệ thống khép kín. Các cấu phần quan trọng trong kiến trúc chương trình này có sự tham gia của nhiều đối tác quốc tế. Module của tàu Orion do châu Âu đảm nhiệm, các hệ thống hỗ trợ sự sống, hậu cần và hạ tầng quỹ đạo có sự đóng góp của Nhật Bản và Canada. Việc chia sẻ vai trò trong chuỗi công nghệ này không chỉ giúp phân bổ chi phí mà còn tạo ra sự gắn kết lợi ích dài hạn giữa các bên tham gia.

Cận cảnh hình ảnh Mặt trăng gửi về từ tàu Orion. Ảnh: NASA
Trước đó, về thể chế, 61 quốc gia đã tham gia Hiệp định Artemis - một khuôn khổ không ràng buộc do Mỹ dẫn đầu, đặt ra các nguyên tắc về minh bạch, sử dụng hòa bình và phát triển bền vững trong không gian sâu. Ngoài hiệp định Artemis, được biết, Trung Quốc và Nga hiện cũng dần đầu một cấu trúc tương tự có tên Trạm Nghiên cứu Mặt trăng Quốc tế (ILRS) với khoảng 14 đối tác.
Ông Giovanni Zanalda đồng thời đề cập tới sự tham gia chưa từng có của khu vực tư nhân trong việc hiện thực hóa sứ mệnh này. Theo ông, cách tiếp cận này giúp giảm chi phí, thúc đẩy sự đổi mới và cho phép nhiều công ty hợp tác.
“Tôi nhìn nhận tinh thần hợp tác trong sứ mệnh này là một điểm đặc biệt, từ công nghệ, sinh học, y học đến ngoại giao và truyền cảm hứng. Chúng ta có thể làm được những điều tuyệt vời nếu chúng ta cùng nhau hợp sức”, ông Giovanni Zanalda nhấn mạnh.
Chính sự đan xen giữa hợp tác nhân sự và công nghệ đã khiến Artemis II trở thành một ví dụ điển hình của ngoại giao mềm trong kỷ nguyên không gian - không áp đặt, nhưng định hình ảnh hưởng thông qua thiết lập mạng lưới hợp tác và cùng xây dựng một hệ sinh thái chung.
Kim Khánh
29 phút trước
51 phút trước
2 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
5 giờ trước
6 giờ trước
7 giờ trước
7 giờ trước