🔍
Chuyên mục: Pháp luật

Khoảng trống giữa kiểm định chất lượng và xác minh nguồn gốc kim cương

4 giờ trước
Từ cuối tháng 5/2026 đến giữa tháng 6/2026, sau bài livestream trên mạng xã hội liên quan đến kinh doanh kim cương tại cửa hàng Vàng bạc Kim Lý, thị trường 'ngầm' bắt đầu 'dậy sóng'. Đặc biệt mới đây, Công an tỉnh Thanh Hóa thông tin đã triệt phá đường dây buôn lậu kim cương xuyên quốc gia, khởi tố 22 bị can và thu giữ 1.100 viên kim cương các loại.
00:00
00:00

Tang vật của vụ án. Ảnh: TTXVN.

Nhiều ý kiến cho rằng, thị trường kim cương muốn minh bạch, không thể chỉ dựa vào niềm tin hoặc uy tín thương mại, mà Việt Nam cần cơ chế pháp lý rõ ràng, dữ liệu truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm kiểm định minh bạch và chế tài đủ mạnh. Phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã phỏng vấn Luật sư Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật Sư TP Hà Nội) về vấn đề này.

Thưa ông, xin ông cho biết, quy trình kiểm định kim cương ở Việt Nam hiện nay như thế nào, thưa ông?

Về bản chất, kiểm định kim cương là hoạt động đánh giá đặc tính kỹ thuật của viên kim cương tại thời điểm kiểm định như: Trọng lượng carat, màu sắc, độ tinh khiết, giác cắt, kích thước, hình dạng, mã số khắc laser nếu có, tình trạng xử lý, kim cương tự nhiên hay tổng hợp. Trên thị trường, quy trình này thường do các trung tâm giám định, phòng thử nghiệm hoặc đơn vị kiểm định đá quý thực hiện theo quy trình nội bộ và tiêu chuẩn kỹ thuật đơn vị công bố áp dụng.

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc, Công ty Luật TNHH TGS, Đoàn Luật sư TP Hà Nội.

Tuy nhiên, cần phân biệt rõ: Giấy kiểm định kim cương không đồng nghĩa với giấy chứng nhận nguồn gốc hợp pháp. Giấy kiểm định chủ yếu xác nhận đặc tính kỹ thuật của viên kim cương, không phải là chứng từ hải quan, hóa đơn tài chính, chứng nhận nhập khẩu hợp pháp hay chứng nhận quyền sở hữu. Một số thông tin báo chí gần đây cũng phản ánh rằng, giấy giám định về bản chất chỉ là chứng thư kỹ thuật mô tả đặc tính viên kim cương tại thời điểm kiểm định, không phải cam kết về nguồn gốc hợp pháp hay giá trị tài sản.

Vậy hiện nay, những cơ quan nào đang quản lý, giám sát thị trường kim cương tại Việt Nam, thưa ông?

Pháp luật Việt Nam chưa có đạo luật hoặc cơ chế quản lý riêng biệt, chuyên ngành cho thị trường kim cương. Kim cương được quản lý dưới nhiều góc độ khác nhau, tùy theo hoạt động cụ thể là nhập khẩu, kinh doanh, kiểm định, lưu thông hàng hóa, thuế, hải quan, hay phòng chống hàng giả, hàng nhập lậu.

Về nhập khẩu, xuất khẩu và lưu thông qua biên giới, cơ quan hải quan thuộc Bộ Tài chính có trách nhiệm kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu. Theo Luật Hải quan, hàng hóa, phương tiện vận tải khi xuất khẩu, nhập khẩu phải làm thủ tục hải quan, chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan. Đối với hành lý người xuất nhập cảnh có mang theo vàng, kim loại quý, đá quý vượt mức quy định cũng phải khai báo hải quan.

Về quản lý thị trường trong nước, lực lượng Quản lý thị trường thuộc Bộ Công Thương có thẩm quyền kiểm tra, xử lý hành vi kinh doanh hàng nhập lậu, hàng không rõ nguồn gốc, hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

Về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và hoạt động thử nghiệm, giám định, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) là cơ quan quản lý Nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Đối với vàng trang sức, mỹ nghệ, Thông tư 22/2013/TT-BKHCN quy định về quản lý đo lường trong kinh doanh vàng và quản lý chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ lưu thông trên thị trường. Ngoài ra, nếu kim cương được gắn trên sản phẩm vàng, trang sức, hoạt động kinh doanh còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật về kinh doanh vàng. Theo Nghị định 24/2012/NĐ-CP, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) là cơ quan thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý hoạt động kinh doanh vàng; Nghị định này hiện đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 232/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 10/10/2025.

Từ vụ việc trên cho thấy những lỗ hổng nào trong quản lý thị trường kim cương hiện nay, thưa ông?

Theo Công an tỉnh Thanh Hóa và Bộ Công an, đường dây buôn lậu kim cương trên bị xác định đã đưa hơn 28.000 viên kim cương từ Hong Kong vào Việt Nam tiêu thụ từ năm 2024, thực hiện 141 lượt vận chuyển, doanh thu ước tính khoảng 280 tỷ đồng; Cơ quan điều tra đã khởi tố 22 bị can và thu giữ 1.100 viên kim cương các loại.

Từ góc độ pháp lý, vụ việc cho thấy một số lỗ hổng đáng chú ý.

Thứ nhất, lỗ hổng ở khâu kiểm soát hàng hóa có giá trị cao nhưng kích thước nhỏ. Nếu cơ chế quản lý rủi ro, khai báo hải quan và chia sẻ dữ liệu chưa đủ chặt, rất khó phát hiện.

Thứ hai là lỗ hổng giữa “kiểm định chất lượng” và “xác minh nguồn gốc”. Hiện giấy kiểm định thường chỉ phản ánh đặc tính kỹ thuật của viên kim cương, không xác nhận viên kim cương đó được nhập khẩu hợp pháp. Nếu thị trường, người tiêu dùng hoặc doanh nghiệp mặc nhiên coi giấy kiểm định là bằng chứng về nguồn gốc thì sẽ tạo ra khoảng trống rất lớn cho việc hợp thức hóa hàng nhập lậu.

Lổ hổng thứ ba là dữ liệu giao dịch. Kim cương là tài sản giá trị cao, nhưng hiện chưa có cơ sở dữ liệu tập trung về nhập khẩu, kiểm định, mua bán, chuyển nhượng, thu đổi. Việc mua bán chủ yếu dựa trên giấy kiểm định rời, hóa đơn rời, chứng từ rời nên khó truy vết dòng hàng và dòng tiền.

Thứ tư là lỗ hổng trong trách nhiệm của tổ chức kiểm định. Nếu đơn vị kiểm định chỉ tiếp nhận mẫu và cấp chứng thư kỹ thuật mà không có cơ chế cảnh báo đối với lô hàng bất thường, số lượng lớn, khách hàng gửi kiểm định lặp lại hoặc không có chứng từ nhập khẩu đi kèm, hoạt động kiểm định có thể bị lợi dụng.

Thứ năm là lỗ hổng trong phối hợp liên ngành.

Vậy theo ông, quy trình kiểm định và truy xuất nguồn gốc kim cương tại Việt Nam cần được siết chặt ở những khâu nào để hạn chế việc làm giả hoặc hợp thức hóa hiện nay?

Cần siết chặt ít nhất 5 khâu. Đơn vị kiểm định cần yêu cầu khách hàng kê khai rõ thông tin người gửi mẫu, nguồn gốc mẫu, chứng từ mua bán, tờ khai hải quan hoặc hóa đơn hợp pháp trong trường hợp kiểm định số lượng lớn hoặc kiểm định phục vụ mục đích thương mại. Với khâu phân định nội dung chứng thư, giấy kiểm định phải thể hiện rõ phạm vi, là chứng thư kỹ thuật, không thay thế chứng từ chứng minh nguồn gốc hợp pháp, không thay thế tờ khai hải quan, hóa đơn, chứng từ thuế. Quy định này cần được in nổi bật để tránh việc người bán lợi dụng giấy kiểm định nhằm đánh tráo khái niệm.

Khâu số hóa dữ liệu kiểm định có vai trò quan trọng bởi mỗi viên kim cương có chứng thư nên được gắn với mã định danh điện tử, mã QR, hình ảnh, thông số, số chứng thư, ngày kiểm định, đơn vị kiểm định. Khi viên kim cương được mua bán, thu đổi, cầm cố, các lần giao dịch nên được cập nhật để tăng khả năng truy vết.

Đối với kim cương nhập khẩu thương mại, chứng thư kiểm định nên có trường thông tin liên quan đến số tờ khai hải quan, số hóa đơn, đơn vị nhập khẩu hoặc tối thiểu có cơ chế để cơ quan chức năng tra cứu đối chiếu khi cần. Khâu thứ 5 cần được siết chặt là công tác hậu kiểm và trách nhiệm của tổ chức kiểm định. Cần có cơ chế thanh tra định kỳ, kiểm tra đột xuất, lưu mẫu dữ liệu, lưu hồ sơ kiểm định, xử lý nghiêm trường hợp cấp chứng thư sai sự thật, tiếp tay cho hàng nhập lậu hoặc cố ý bỏ qua dấu hiệu bất thường.

Từ góc độ pháp lý, Việt Nam cần bổ sung hoặc hoàn thiện quy định gì để ngăn chặn các đường dây tương tự, thưa ông?

Việt Nam cần hoàn thiện pháp luật theo các hướng: Ban hành quy định riêng hoặc chương riêng về quản lý đá quý, kim cương, trang sức giá trị cao. Kim cương đang nằm rải rác trong nhiều nhóm quy định khác nhau, chưa có cơ chế chuyên biệt tương xứng với giá trị tài sản và rủi ro buôn lậu, rửa tiền, gian lận thương mại. Mặt khác, cần quy định rõ điều kiện đối với tổ chức kiểm định kim cương, bao gồm tiêu chuẩn phòng thử nghiệm, nhân sự giám định, thiết bị, quy trình lưu hồ sơ, trách nhiệm pháp lý khi cấp chứng thư sai hoặc để chứng thư bị lợi dụng.

Thêm vào đó, cần quy định bắt buộc về truy xuất nguồn gốc đối với kim cương thương mại. Một viên kim cương đưa ra thị trường nên có tối thiểu 3 lớp chứng từ: Chứng từ nhập khẩu hoặc chứng minh nguồn gốc hợp pháp; chứng thư kiểm định kỹ thuật; hóa đơn, chứng từ giao dịch; thứ tư, cần tăng cường quản lý giao dịch giá trị lớn.

Kim cương có giá trị cao, dễ cất giấu và dễ chuyển đổi thành tiền, nên có nguy cơ bị lợi dụng để rửa tiền hoặc chuyển tài sản bất hợp pháp. Do đó, cần có cơ chế nhận diện giao dịch bất thường, thanh toán không dùng tiền mặt đối với giao dịch vượt ngưỡng nhất định, lưu trữ thông tin khách hàng và báo cáo giao dịch đáng ngờ.

Bên cạnh đó, cần tăng chế tài đối với hành vi sử dụng giấy kiểm định, hóa đơn, chứng từ để hợp thức hóa hàng nhập lậu. Nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm, hành vi buôn lậu có thể bị xử lý theo Điều 188 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, cần xây dựng cơ sở dữ liệu liên ngành giữa hải quan, thuế, quản lý thị trường, cơ quan kiểm định và cơ quan điều tra đối với nhóm hàng hóa giá trị cao như kim cương, vàng, đá quý.

Đối với cơ quan quản lý, cần chuyển từ quản lý theo từng khâu riêng lẻ sang quản lý theo chuỗi: Nhập khẩu - kiểm định - lưu thông - giao dịch - thuế - hậu kiểm; cần tăng cường kiểm tra rủi ro tại cửa khẩu, sân bay, chuyển phát nhanh; đồng thời thanh tra các tổ chức kiểm định, doanh nghiệp kinh doanh đá quý có giao dịch số lượng lớn, doanh thu bất thường.

Về phía các doanh nghiệp kinh doanh đá quý, cần coi chứng từ nguồn gốc là yếu tố sống còn. Doanh nghiệp không nên chỉ dựa vào giấy kiểm định, mà phải lưu đầy đủ tờ khai hải quan, hóa đơn, hợp đồng mua bán, chứng từ thanh toán, chính sách bảo hành và hồ sơ kiểm định. Phía đơn vị kiểm định, cần xác lập lại ranh giới trách nhiệm: kiểm định kỹ thuật là một việc, xác nhận nguồn gốc hợp pháp là việc khác. Tuy nhiên, nếu phát hiện dấu hiệu bất thường như kiểm định số lượng lớn, lặp lại, không có chứng từ, cùng một nhóm người gửi mẫu, hoặc thông tin khai báo không nhất quán thì cần có cơ chế cảnh báo, lưu hồ sơ và phối hợp với cơ quan chức năng.

Người dân không nên hiểu rằng “có giấy kiểm định” là chắc chắn hợp pháp. Giấy kiểm định chỉ giúp xác định đặc tính viên đá, còn nguồn gốc hợp pháp phải được chứng minh bằng chứng từ nhập khẩu, hóa đơn và hồ sơ giao dịch hợp lệ.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Minh Phương/Báo Tin tức và Dân tộc (thực hiện)

TIN LIÊN QUAN






















Home Icon VỀ TRANG CHỦ