Khoa học công nghệ dẫn dắt ngành chăn nuôi bứt phá
Hơn 96% trang trại xử lý môi trường, chăn nuôi hướng tới bền vững
Sáng 28/3, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị Khoa học, Công nghệ Chăn nuôi và Thú y toàn quốc lần thứ nhất.
Tại đây, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, chăn nuôi hiện là một trong những trụ cột của nông nghiệp Việt Nam, với quy mô khoảng 33 tỷ USD, chiếm 27-28% GDP toàn ngành.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: Hạnh Nhung
Lĩnh vực này không chỉ tạo sinh kế cho hàng triệu hộ dân mà còn đóng vai trò đảm bảo an ninh thực phẩm, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Trong thập kỷ qua, ngành duy trì tốc độ tăng trưởng 4,5-6% mỗi năm, đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có quy mô chăn nuôi lớn trên thế giới, với đàn lợn đứng thứ 5 và gia cầm đứng thứ 9. Năm 2025, tổng sản lượng đạt 8,68 triệu tấn thịt, 21,4 tỷ quả trứng và 1,3 triệu tấn sữa tươi.
Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi vượt 2,2 tỷ USD, trong khi sản phẩm thuốc và vaccine thú y đã xuất khẩu tới gần 50 quốc gia.
Tuy nhiên, dư địa phát triển của ngành vẫn còn lớn nhưng đi kèm với nhiều thách thức. Biến động địa chính trị, biến đổi khí hậu, dịch bệnh diễn biến phức tạp cùng với đặc thù sản xuất nhỏ lẻ khiến ngành phải đối mặt với áp lực chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình phát triển bền vững, bảo đảm an toàn sinh học và thân thiện môi trường.
Đặt trong bối cảnh hiện tại, yêu cầu về đột phá khoa học công nghệ trong lĩnh vực chăn nuôi và thú y càng trở nên cấp thiết giúp ngành chăn nuôi và thú y nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.
Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Văn Long cho hay, những năm qua, ngành chăn nuôi và thú y đã chuyển từ thiếu hụt sang đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Thành tựu này có đóng góp quan trọng của khoa học, công nghệ.
Trong chọn tạo giống, nhiều công nghệ sinh học hiện đại như thụ tinh trong ống nghiệm, cấy truyền phôi, phân tích gen và chọn lọc di truyền đã được làm chủ. Đến nay, 47 giống vật nuôi mới được công nhận, nâng tổng số giống năng suất cao lên 59 giống, với một số sản phẩm đạt 90–95% năng suất so với thế giới. Nhờ đó, ngành đã cơ bản đáp ứng đủ, thậm chí dư thừa nguồn cung thực phẩm trong nước.
Trong lĩnh vực thú y, các công nghệ vaccine tái tổ hợp, vô hoạt và đa giá đã được làm chủ, với một số sản phẩm đạt tiêu chuẩn cao, có thể thay thế hàng nhập khẩu. Bên cạnh đó, hơn 96% trang trại đã áp dụng các biện pháp xử lý môi trường, góp phần giảm thiểu ô nhiễm và nâng cao tính bền vững.
Ứng dụng tự động hóa và chuyển đổi số trong quản lý trang trại, giám sát vật nuôi và truy xuất nguồn gốc tiếp tục được đẩy mạnh.
Dưới góc độ doanh nghiệp, theo ông Nguyễn Văn Minh, Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần Nông nghiệp BAF Việt Nam, ứng dụng công nghệ giúp nâng cao hiệu quả quản trị và tạo lợi thế cạnh tranh. Với mô hình chuỗi khép kín 3F (Feed – Farm – Food), doanh nghiệp kiểm soát toàn bộ quy trình từ trang trại đến bàn ăn. Thông tin về con giống, nguồn gốc, thức ăn và quy trình chăm sóc được lưu trữ trên phần mềm, người tiêu dùng chỉ cần quét mã QR để truy xuất sản phẩm.
Việc minh bạch dữ liệu giúp củng cố niềm tin với khách hàng và nâng cao giá trị thương hiệu; tận dụng cơ hội từ các quy định mới về truy xuất nguồn gốc.
Phát triển chuỗi giá trị khép kín, tăng liên kết, chuyển đổi số
Định hướng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến năm 2030, ngành chăn nuôi sẽ phát triển theo hướng hiện đại, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao và kiểm soát tốt dịch bệnh. Tổng sản lượng thịt dự kiến đạt trên 10 triệu tấn, sản lượng trứng hơn 25 tỷ quả và sữa khoảng 1,6 triệu tấn, đồng thời nâng cao tỷ trọng xuất khẩu và giá trị gia tăng của sản phẩm.
Theo các chuyên gia tại Hội nghị, để đạt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, ngành cần hoàn thiện thể chế, thúc đẩy liên kết chuỗi, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển theo mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Về dài hạn, khoa học, công nghệ được xác định là đột phá chiến lược, với nguồn lực đầu tư tăng mạnh, tạo điều kiện để chuyển từ nghiên cứu nhỏ lẻ sang các chương trình lớn, gắn với nhu cầu thị trường.
Theo Vụ trưởng Nguyễn Văn Long, giai đoạn 2026-2030 được xác định là thời kỳ đột phá với trọng tâm là xây dựng chương trình khoa học và công nghệ mang tính chiến lược, tập trung vào các công nghệ lõi.
Một trong những định hướng quan trọng là ứng dụng công nghệ di truyền tiên tiến như chỉnh sửa gen và chọn giống theo hệ gen nhằm tạo ra các giống vật nuôi có năng suất cao, kháng bệnh tốt.
Bên cạnh đó, chuyển đổi số cũng được xác định là trụ cột phát triển, với mục tiêu xây dựng hệ thống dữ liệu lớn (Big Data) ngành chăn nuôi, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán dịch bệnh và tự động hóa sản xuất.
Trong lĩnh vực thú y, chiến lược phát triển vaccine tam giá phòng ba bệnh nguy hiểm trên gà thế hệ mới được đặt lên hàng đầu, hướng tới làm chủ các công nghệ nền tảng như Reverse Genetics, CRISPR và mRNA.
Mục tiêu là chủ động sản xuất vaccine trong nước, giảm phụ thuộc nhập khẩu và từng bước xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao. Ngành cũng sẽ thúc đẩy mô hình chăn nuôi tuần hoàn, giảm phát thải và hướng tới mục tiêu Net Zero thông qua nghiên cứu tái chế chất thải, phát triển phụ gia thức ăn giảm khí nhà kính.
Ngành chăn nuôi cũng xác định sẽ chú trọng phát triển chuỗi giá trị khép kín, tăng cường liên kết giữa các khâu trong sản xuất và tiêu thụ; đẩy mạnh chuyển đổi số toàn ngành, từ truy xuất nguồn gốc đến quản trị thị trường.
Với nền tảng đã đạt được và định hướng chiến lược rõ ràng, chương trình khoa học công nghệ lĩnh vực chăn nuôi và thú y giai đoạn 2026-2030 được kỳ vọng sẽ tạo bước đột phá mới, nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo đảm an ninh dịch bệnh và đưa ngành chăn nuôi, thú y Việt Nam phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập toàn cầu.
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến khẳng định, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cam kết sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo môi trường thuận lợi để các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực chăn nuôi - thú y được triển khai hiệu quả. Đồng thời, đồng hành cùng doanh nghiệp, nhà khoa học và người chăn nuôi trong quá trình phát triển ngành theo hướng hiện đại, bền vững và hội nhập quốc tế.
Hạnh Nhung