🔍
Chuyên mục: Du lịch

Khám phá dòng Nậm Nơn khởi nguồn sông Lam nơi miền Tây xứ Nghệ

3 giờ trước
Sông Nậm Nơn dài hơn 100km, bắt nguồn từ tỉnh Hủa Phăn (Lào). Khi 'nhập tịch' vào Việt Nam tại xã Keng Đu, sông miệt mài xuôi qua các xã Mỹ Lý, Nhôn Mai, Hữu Khuông, Yên Na, Lượng Minh... rồi hòa mình vào sông Nậm Mộ tại ngã ba Cửa Rào (xã Tương Dương), khởi nguồn nên dòng sông Lam trứ danh xứ Nghệ.

Từ bao đời, Nậm Nơn là biểu tượng của thiên nhiên vừa hoang sơ, vừa hùng vĩ nơi miền Tây Nghệ An. Dọc hành trình xuôi hạ du, sông đã khắc họa nên những bức tranh sơn thủy với vô số ghềnh thác lớn nhỏ, những bãi đá ngầm, doi cát, xoáy nước sâu giữa lòng sông. Trải qua những thăng trầm của thời gian, dòng sông không chỉ nuôi dưỡng sự sống, bồi đắp tâm hồn, trở thành miền ký ức thân thương mà còn là biểu tượng bền vững trong đời sống văn hóa, tinh thần của các cộng đồng dân cư sinh sống dọc hai bên bờ.

“Cung thủy lộ” Nậm Nơn - bức tranh hùng vĩ của đại ngàn

"Nhắc đến miền Tây Nghệ An, mọi người thường nghĩ đến những cung đường đèo quanh co, uốn lượn trong mây, hoặc xuyên đại ngàn, vắt qua các “cổng trời” hun hút gió và sương giăng... Nhưng để cảm nhận trọn vẹn vẻ đẹp của vùng đất này, chẳng có hành trình nào đặc biệt hơn việc khám phá dòng Nậm Nơn". Lời gợi mở của anh Vi Văn Phôn, bản Yên Hòa, xã Mỹ Lý đã kích thích, “buộc” chúng tôi xuống xuồng gắn động cơ, thực hiện hành trình khám phá Nậm Nơn - dòng sông đẹp và giàu bản sắc bậc nhất miền Tây xứ Nghệ.

Thuyền rời bến ở xã Nhôn Mai, một thế giới khác nhanh chóng mở ra trước mắt chúng tôi. Ngay những phút đầu, Nậm Nơn đã gây ấn tượng bởi sự rộng lớn, trải dài giữa hai dãy núi xanh thẫm, mặt nước trong xanh phản chiếu mây trời. Xa xa, các nếp nhà sàn của bản làng ven sông hiện lên thấp thoáng, soi bóng xuống lòng sông.

Hành trình xuôi hạ lưu, sông Nậm Nơn đã gom vào mình hàng trăm dòng khe, con suối nhỏ. Tại những nơi sông Nậm Nơn “vặn” mình, dâng tràn, lấn sâu vào các khe dưới chân núi tạo nên những vùng “vịnh” hẹp, bán đảo nhỏ có cảnh sắc đẹp. Ảnh: Xuân Tiến - TTXVN

Đến địa phận xã Mỹ Lý, sông Nậm Nơn như lớn dần lên, mực nước sâu hơn, lưu tốc thay đổi khi đã đón nhận thêm lượng nước từ hàng trăm dòng khe, con suối nhỏ, vùng tụ thủy từ những cánh rừng già, vách đá hai bên lòng sông đổ xuống. Có những đoạn, dòng sông bất ngờ uốn cong ôm lấy chân núi. Nước dâng tràn vào sâu các khe đá, tạo thành những vịnh nhỏ đẹp như tranh vẽ. Giữa màu xanh của núi rừng, sắc nước càng trở nên trong xanh, thăm thẳm.

Dọc hai bên bờ sông là những bến thuyền với những chiếc thuyền gỗ nhỏ đang gối bãi, dềnh theo con sóng. Tại những bến thuyền có những ngôi nhà gỗ lợp tranh, lợp nứa ven sông. Nhịp sống bình yên nơi đây thể hiện qua tiếng mái chèo khua nước, tiếng động cơ xuống vọng vào vách núi, những đứa trẻ ríu rít mừng vui khi nhìn thấy bố, mẹ đi thả lưới, đánh bắt cá tôm trở về trên những chiếc thuyền vừa cập bến...

Những cây cầu treo bắc qua sông Nậm Nơn đấu nối tỉnh lộ 543B với các bản làng nằm ven sông trở thành những điểm nhấn, quanh năm soi bóng xuống mặt nước. Ảnh: Xuân Tiến - TTXVN

Trên hành trình ngược Nậm Nơn, chúng tôi bắt gặp nhiều thuyền đuôi én gắn động cơ vun vút ngược xuôi, tung bọt trắng xóa. Những người dân chèo thuyền đi cất vó, thả lưới, cho cá ăn ở các lồng bè nuôi. Hai bên bờ sông, khói bếp bảng lảng bay lên từ những nếp nhà sàn, hòa vào màn sương còn vương trên lưng núi.

Lên mạn thượng du, đoạn qua các bản Xiềng Tắm, Xốp Tụ, Hòa Lý (xã Mỹ Lý), dòng Nậm Nơn đột ngột thu hẹp độ rộng. Một bên là Quốc lộ 16 mải miết men theo sườn núi, bên kia là những vách đá dựng đứng như những bức tường thành khổng lồ. Có những đoạn “thắt cổ chai”, dòng nước luồn qua khoảng hẹp với những vách đá cao ngút tạo nên khung cảnh vừa thơ mộng, vừa dữ dội.

Tiếp tục đến các bản vùng biên giới Cha Nga, Yên Hòa, dòng Nậm Nơn liên tục “vặn mình” thành những cánh cung rộng ôm các doi cát, trước lúc thay đổi màu nước sang đục ngầu phù sa, bộc lộ "bản tính" mạnh bạo. Từ đây, Nậm Nơn thật sự bước vào thế giới của những ghềnh thác. Hai bên bờ là những bức vách đá cao hàng chục mét, phủ kín màu xanh của cây rừng.

Sông Nậm Nơn đoạn chảy qua các bản Xiềng Tắm, Xốp Tụ, Hòa Lý (xã Mỹ Lý, tỉnh Nghệ An) bị hẹp lại. Một bên là quốc lộ 16 chạy song song, một bên là dãy núi với những bờ vách đá cao, thẳng đứng tạo nên khung cảnh trữ tình và hùng vĩ. Ảnh: Xuân Tiến - TTXVN

Những con thác mang tên như Cánh Cạp, Cánh Sạc, Cánh Lẹc... liên tiếp xuất hiện như những “trận đồ” của tạo hóa đựng bày ra để thử tài nghệ vượt thác của người điều khiển thuyền, xuồng. Người ngồi trên thuyền thi nhau “nín thở” khi nghe tiếng đá va vào đáy xuồng hoặc những lúc mũi thuyền vục sâu vào con sóng tung bọt xóa.

Anh Vi Văn Phôn, người lái thuyền nói vui với chúng tôi: “Chính sự đối lập giữa vẻ hiền hòa, mềm mại và dữ dội, bạo liệt đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt của Nậm Nơn. Dòng sông mang trong mình hai tính cách như con người miền Tây xứ Nghệ, vừa chân chất, giản dị nhưng cũng kiên cường trước mọi thử thách của thiên nhiên”.

Trầm tích văn hóa và sức sống miền biên viễn

Nếu thiên nhiên ban tặng cho Nậm Nơn vẻ đẹp kỳ vĩ thì chính con người đã bồi đắp nên chiều sâu văn hóa cho dòng sông. Bao đời nay, Nậm Nơn đã chảy qua ký ức của các cộng đồng cư dân miền biên viễn, trở thành mạch nguồn nuôi dưỡng đời sống vật chất lẫn tinh thần của đồng bào Thái, Khơ Mú, Mông, Ơ Đu... Nhưng hiếm có dòng sông nào ở Nghệ An mà dấu ấn của con người lại hiện diện đậm đặc như sông Nậm Nơn. Nhiều bản làng nằm dọc hai bờ sông từ nhiều thế hệ trước, những ngôi nhà sàn quay mặt ra sông, bến nước nằm ngay dưới chân bản, những chiếc thuyền độc mộc gối mình trên bãi cát... tất cả tạo thành những tiểu vùng không gian văn hóa đặc trưng mang hơi thở của miền sơn cước.

Hai bên bờ sông Nậm Nơn qua các bản Cha Nga, Yên Hòa (xã Mỹ Lý, tỉnh Nghệ An) xuất hiện những rặng dừa cao vút, tỏa tán xanh ngát tạo nên nét đặc trưng cho những vùng đất “sơn cùng thủy tận” nơi thượng nguồn Nậm Nơn. Ảnh: Xuân Tiến - TTXVN

Đối với người Thái, dòng Nậm Nơn được xem như mạch sống của bản mường. Hàng trăm năm trước, khi người Thái tìm về đất định cư, lập bản, họ đã chọn những vùng đất ven sông Nậm Nơn để dựng nhà, khai khẩn nương rẫy, hình thành nên những cộng đồng cư dân bền vững theo triết lý sống ngàn đời của cha ông họ đã truyền lại “Người Thái ăn theo nước...”. Dòng Nậm Nơn đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo sinh kế cho người dân khi mang phù sa nuôi dưỡng cây cối, mang tôm cá về nuôi sống con người, đồng thời mở ra con đường giao thông thuận lợi nhất giữa các bản làng trong điều kiện núi cao, rừng sâu chia cắt. Nậm Nơn cũng là nguồn sinh kế bền bỉ của cư dân nơi đây.

Tại các xã Mỹ Lý, Hữu Khuông, Keng Đu, Nhôn Mai..., hầu như mọi sinh hoạt của người dân ven sông đều gắn với dòng Nậm Nơn. Bình minh vừa hé, người lên rẫy thăm lúa, vào rừng khai thác măng, nấm, ra lồng nuôi hải sản giữa dòng, xuống chợ phiên mang bán buôn nông sản, rau rừng, thổ cẩm... đều di chuyển bằng thuyền trên sông. Đến chiều muộn, những con thuyền lại lặng lẽ chở người về lại bản làng trong ánh hoàng hôn bảng lảng phủ kín mặt nước.

Người dân sinh sống ở các bản dọc hai bên bờ sông Nậm Nơn dùng thuyền nhỏ gắn động cơ để di chuyển khi đi ra các bè, lồng nuôi cá, khu vực đặt lưới, cất vó trên sông. Ảnh: Xuân Tiến - TTXVN

Anh Vi Văn Phôn, người lái thuyền cho biết, đàn ông người Thái ở những bản ven Nậm Nơn ai cũng biết lái thuyền. Đó là kỹ năng được truyền từ các thế hệ như một phần của hành trang trưởng thành. Từ khi còn nhỏ, những bé trai đã theo cha vượt thác, học cách “đọc” dòng nước, nhận biết “màu nước” để đi điều khiển thuyền đi đúng luồng lạch, tránh đá ngầm, gỗ nổi. Nhiều người già trong bản Cha Nga, Yên Hòa (xã Mỹ Lý) chỉ cần nhìn màu nước là biết dòng sông “hiền” hay “dữ”, nghe tiếng nước va vào vách đá là biết phải lái thuyền đi sát bờ hay ra giữa dòng.

Bà Vi Thị Hồng, bản Xiềng Tắm, xã Mỹ Lý cho biết, phụ nữ các bản ven sông quen với việc xuống bến giặt áo, gùi nước, chèo thuyền từ nhỏ. Những đứa trẻ ở bản ven sông biết bơi từ rất sớm, coi bến nước như một phần tuổi thơ nên dòng sông vì thế trở thành ký ức chung của cả cộng đồng. Mỗi độ Tết đến, Xuân về, vòng xòe nối dài quanh sân bản, tiếng cồng, tiếng chiêng, tiếng nhảy sạp ngân vang. Những điệu lăm vông mềm mại, tiếng “khắp”, tiếng “nhuôm” da diết tạo nên không gian văn hóa đặc sắc. Đó là ngày hội của bản làng, là dịp để cộng đồng gặp gỡ, kết nối và trao truyền những giá trị truyền thống cho nhau.

Hang Mũi Trâu, Nghệ An hút khách du lịch dịp Hè

08/06/2026 20:32

Anh Phôn Ma, bản Yên Hòa, xã Mỹ Lý cho biết thêm, Nậm Nơn còn là dòng sông của tình đoàn kết nơi biên cương. Từ khe Huồi Mai (xã Mỹ Lý) ngược thượng nguồn hàng chục km, dòng Nậm Nơn trở thành ranh giới tự nhiên giữa hai nước Việt - Lào. Một bên là các bản Piềng Típ, Cha Nga, Keng Đu của Nghệ An, bên kia là những bản làng thuộc huyện Mường Quắn, tỉnh Hủa Phăn. Từ bao đời nay, nhân dân hai nước vẫn qua lại trao đổi hàng hóa, giúp nhau trong lao động sản xuất, thăm hỏi khi có việc vui, việc buồn. Đã có nhiều đôi trai gái hai bên bờ Nậm Nơn nên duyên vợ chồng.

Nậm Nơn không chỉ là một dòng sông, mà còn là biểu tượng của sự giao thoa giữa thiên nhiên, lịch sử và văn hóa. Qua bao thăng trầm, dòng sông vẫn bền bỉ bồi đắp bản sắc, nuôi dưỡng đời sống và gìn giữ những giá trị truyền thống của miền Tây xứ Nghệ. Với vẻ đẹp hùng vĩ cùng chiều sâu văn hóa, Nậm Nơn sẽ mãi là niềm tự hào, là nguồn cảm hứng và là di sản quý giá của vùng đất nơi thượng nguồn xứ Nghệ.

Xuân Tiến








Sen nở hào quang
Giác ngộ 53 phút trước






Home Icon VỀ TRANG CHỦ