🔍
Chuyên mục: Tài chính

IMF dự báo GDP Việt Nam sẽ vượt Thái Lan vào năm 2030

15 phút trước
IMF dự báo quy mô kinh tế của Việt Nam vào năm 2030 có thể đạt 668 tỷ USD, vượt mặt Thái Lan trong cùng khu vực.

Trong báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), nền kinh tế thế giới được dự báo vượt mốc 150.000 tỷ USD vào năm 2030, trong đó các thị trường mới nổi ở châu Á được kỳ vọng đóng góp đáng kể vào tăng trưởng, theo Visual Capitalist.

Việt Nam sẽ vượt nhiều nước trong khu vực

Đến năm 2030, châu Á và Trung Đông được dự báo tạo ra 55.700 tỷ USD sản lượng kinh tế, tương đương hơn 1/3 GDP toàn cầu.

Nhật Bản sẽ là nền kinh tế lớn thứ 3 trong khu vực, sau Trung Quốc và Ấn Độ, với GDP khoảng 5.000 tỷ USD, tiếp theo là Hàn Quốc với 2.300 tỷ USD và Indonesia với 2.100 tỷ USD.

Nền kinh tế Nhật Bản, vốn trì trệ trong thời gian dài, đã chứng kiến tốc độ tăng trưởng suy yếu trong nhiều thập kỷ qua. Từng là nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, Nhật Bản đã bị Trung Quốc vượt qua vào năm 2010 và bị Đức vượt qua vào năm 2024.

IMF đưa ra dự báo GDP cho các quốc gia vào năm 2030. Ảnh minh họa: Visual Capitalist.

Ở vị trí thứ 34, Việt Nam được dự báo đạt quy mô kinh tế 668 tỷ USD vào năm 2030, vượt Thái Lan (khoảng 648 tỷ USD) và Hong Kong (Trung Quốc) - xấp xỉ ở mức 537 tỷ USD - trong cùng khu vực.

IMF lưu ý sự thay đổi trong dòng chảy thương mại toàn cầu đang tạo ra những chuyển dịch đáng chú ý trong chuỗi cung ứng. Khi nhập khẩu của Mỹ từ Trung Quốc giảm, một phần nguồn hàng được chuyển sang các nền kinh tế khác tại châu Á, trong đó có Việt Nam.

Đây là một trong những yếu tố hỗ trợ triển vọng của Việt Nam trong bối cảnh các doanh nghiệp quốc tế tiếp tục đa dạng hóa chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa Việt Nam hoàn toàn miễn nhiễm trước những rủi ro từ suy giảm thương mại toàn cầu và các thay đổi trong chính sách thương mại của các đối tác lớn.

Cũng thông qua báo cáo, 3 nền kinh tế lớn nhất thế giới vào năm 2030 được IMF dự báo vẫn giữ nguyên vị trí như năm 2026. Mỹ đứng đầu với GDP dự kiến 37.700 tỷ USD, tiếp theo là Trung Quốc với 26.000 tỷ USD và Đức đứng thứ 3 với 6.200 tỷ USD.

Mỹ được dự báo giữ vững vị trí đầu bảng với GDP năm 2030 đạt 37.700 tỷ USD. Ảnh: Reuters.

Tổng GDP của 3 nền kinh tế này dự kiến tăng thêm hơn 10.000 tỷ USD trong giai đoạn 2026-2030, trong đó Trung Quốc là nước đóng góp lớn nhất vào mức tăng này.

Cuộc đua giành vị trí thứ 3 diễn ra sít sao. GDP của Đức được dự báo đạt 6.178 tỷ USD vào năm 2030, cao hơn so với mức 6.173 tỷ USD của Ấn Độ. Tuy nhiên, con số chênh lệch giữa 2 quốc gia chỉ khoảng 5 tỷ USD.

Với dự báo trên, IMF nhận định Ấn Độ có thể sớm vượt Đức về GDP danh nghĩa nếu đà tăng trưởng hiện nay tiếp diễn. Thế nhưng, thứ hạng sẽ khác biệt đáng kể nếu tính theo GDP PPP (sức mua tương đương), vì vậy quy mô nền kinh tế Ấn Độ hiện đã lớn gấp khoảng 3 lần Đức.

Một điểm đáng chú ý khác nằm trong báo cáo là nền kinh tế châu Âu. Với quy mô khoảng 37.000 tỷ USD, IMF dự báo đây là một trong những khu vực có cơ cấu kinh tế cân bằng nhất thế giới xét theo quy mô GDP của từng quốc gia vào năm 2030. Trong khi đó, tại cả Bắc Mỹ và Nam Mỹ, chỉ một quốc gia duy nhất - Mỹ - đã chiếm hơn một nửa quy mô nền kinh tế của toàn châu lục.

Vào năm 2030, châu Âu có khả năng chiếm khoảng 1/5 nền kinh tế toàn cầu. Nếu không có thêm quốc gia gia nhập hoặc rời khỏi Liên minh châu Âu (EU), tổng GDP danh nghĩa của các nước thành viên EU sẽ đạt 26.500 tỷ USD, dẫn đầu là Đức, sau đó là Pháp (4.000 tỷ USD) và Italy (3.000 tỷ USD).

Ngoài ra, Vương quốc Anh với GDP dự kiến 5.100 tỷ USD sẽ tiếp tục là nền kinh tế lớn nhất châu Âu ngoài EU, tiếp theo là Nga với 2.600 tỷ USD. Nga nằm trong số ít các nền kinh tế lớn được dự báo thu hẹp quy mô trong giai đoạn 2026-2030.

Lạm phát toàn cầu có thể tăng trở lại

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng 3,1% trong năm 2026 và 3,2% trong năm 2027, đặc biệt trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông làm gia tăng giá hàng hóa, đẩy kỳ vọng lạm phát lên cao và khiến điều kiện tài chính thắt chặt hơn. IMF cho rằng nền kinh tế thế giới vẫn có khả năng chống chịu, song triển vọng tăng trưởng đã trở nên mong manh hơn trước các cú sốc địa chính trị.

Trong kịch bản cơ sở, IMF giả định xung đột được giới hạn về thời gian và quy mô, qua đó hoạt động sản xuất và xuất khẩu năng lượng dần được khôi phục. Tuy nhiên, tổ chức này cảnh báo một cuộc xung đột kéo dài hoặc lan rộng có thể khiến giá năng lượng tăng mạnh hơn, gây thêm sức ép lên lạm phát và làm suy yếu tăng trưởng toàn cầu.

Lạm phát toàn cầu cũng được dự báo tăng trong năm 2026 trước khi giảm trở lại vào năm 2027. Diễn biến này chủ yếu phản ánh cú sốc từ giá năng lượng và các hàng hóa cơ bản sau khi xung đột Trung Đông bùng phát.

Theo IMF, cú sốc năng lượng có thể lan rộng sang nền kinh tế thông qua chi phí vận tải, sản xuất và các nguyên liệu đầu vào. Nếu giá năng lượng duy trì ở mức cao trong thời gian dài, kỳ vọng lạm phát có nguy cơ tăng lên, buộc các ngân hàng trung ương phải duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn.

IMF đồng thời xây dựng các kịch bản rủi ro trong trường hợp xung đột kéo dài và gây gián đoạn nghiêm trọng hơn đối với nguồn cung năng lượng. Trong các kịch bản này, giá năng lượng tăng mạnh hơn sẽ kéo lạm phát lên cao và khiến tăng trưởng toàn cầu suy yếu đáng kể.

Biến động mạnh của giá năng lượng còn đặt các ngân hàng trung ương vào tình thế khó khăn: giá cả tăng trong khi tăng trưởng suy yếu.

Trong trường hợp lạm phát chỉ tăng tạm thời và kỳ vọng lạm phát vẫn được kiểm soát, các ngân hàng trung ương có thể tránh phản ứng quá mạnh với cú sốc giá năng lượng. Ngược lại, nếu kỳ vọng lạm phát bắt đầu "mất neo", chính sách tiền tệ có thể phải duy trì trạng thái thắt chặt lâu hơn.

Từ những kịch bản trên, IMF cho rằng các chính phủ cũng nên tránh những biện pháp hỗ trợ năng lượng quy mô lớn và kéo dài, thay vào đó tập trung nguồn lực vào những nhóm dễ bị tổn thương nhất.

Anh Nguyễn

TIN LIÊN QUAN









































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ