🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Hơn nửa thế kỷ làm sáng tỏ lịch sử của GS Phan Huy Lê

1 giờ trước
Sinh ra trong dòng họ khoa bảng, GS Phan Huy Lê dành trọn cuộc đời nghiên cứu, để lại nhiều công trình có giá trị, góp phần làm sáng tỏ lịch sử Việt Nam.

Hơn nửa thế kỷ miệt mài với sử học, Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Phan Huy Lê là một trong những nhà sử học hàng đầu Việt Nam, góp phần định hình phương pháp nghiên cứu lịch sử hiện đại. Suốt cuộc đời tận tâm phụng sự đất nước, cống hiến cho sự nghiệp khoa học và giáo dục. Với trí tuệ uyên bác cùng tinh thần lao động khoa học bền bỉ, ông để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, góp phần làm giàu kho tàng sử học Việt Nam.

Giáo sư-nhà giáo nhân dân Phan Huy Lê với công trình "Lịch sử và Văn hóa Việt Nam – Tiếp cận bộ phận". Ảnh: Minh Đức/TTXVN

Hạt giống sử học từ một dòng họ khoa bảng

GS Phan Huy Lê sinh ngày 23/2/1934 tại làng Thu Hoạch, nay thuộc xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh, vùng quê giàu truyền thống hiếu học, yêu nước và cách mạng. Ông sinh trưởng trong một gia đình mà cả hai bên nội, ngoại đều có truyền thống khoa bảng nổi tiếng với nhiều danh nhân văn hóa như Phan Huy Cận, Phan Huy Ích, Phan Huy Chú, Cao Xuân Dục, Cao Xuân Huy... Thân sinh ông là cụ Phan Huy Tùng, Tiến sĩ Nho học khoa Quý Sửu năm 1913, nổi tiếng thanh liêm và nhân hậu.

Những năm tháng tuổi thơ sống trên quê hương đã giúp ông thừa hưởng truyền thống trọng nghĩa, hiếu học và hình thành nhân cách, bản lĩnh của một người làm khoa học. Trưởng thành trong giai đoạn nhiều biến động của lịch sử dân tộc, ông vẫn giữ được cái nhìn khách quan, tỉnh táo trong nghiên cứu lịch sử.

Năm 1952, GS Phan Huy Lê rời quê hương theo học lớp dự bị đại học ở Thanh Hóa. Ban đầu yêu thích khoa học tự nhiên, ông dự định theo học Toán - Lý. Tuy nhiên, nhận thấy năng lực và tố chất của ông, GS Trần Văn Giàu và GS Đào Duy Anh đã định hướng ông chuyển sang học ban Sử - Địa tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Đây là bước ngoặt quan trọng đưa ông đến với sự nghiệp sử học.

Ngay từ khi còn là sinh viên, ông đã được các thầy tin tưởng giao làm trợ lý giảng dạy. Năm 1956, sau khi tốt nghiệp cử nhân, ông được giữ lại công tác tại Khoa Sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GS Đào Duy Anh, ông vừa giảng dạy, vừa biên soạn bài giảng. Chỉ hai năm sau, khi mới 24 tuổi, ông đã đảm nhận trọng trách Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Việt Nam Cổ trung đại.

Soi sáng lịch sử bằng tư duy khoa học

Bước vào con đường nghiên cứu, GS Phan Huy Lê lựa chọn kinh tế - xã hội Việt Nam truyền thống làm hướng nghiên cứu đầu tiên. Theo quan niệm của ông, muốn hiểu lịch sử Việt Nam phải bắt đầu từ nông thôn, nông nghiệp và nông dân. Chỉ trong những năm đầu sự nghiệp, ông đã công bố nhiều công trình như Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ, Đặc điểm của phong trào nông dân Tây Sơn, Lao động và làm thuê trong xã hội phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XVIII trở về trước. Đó đều là những công trình được hoàn thành khi ông mới 25 tuổi và đến nay vẫn giữ giá trị khoa học.

Khi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, ông chuyển hướng nghiên cứu sang lịch sử chống ngoại xâm và nghệ thuật quân sự truyền thống Việt Nam. Không chỉ nghiên cứu trên tư liệu, ông còn trực tiếp tổ chức nhiều chuyến khảo sát thực địa tại các chiến trường xưa nhằm đối chiếu, bổ sung sử liệu và làm sáng tỏ các sự kiện lịch sử. Phương pháp kết hợp giữa tư liệu và điều tra thực địa do ông theo đuổi đã mở ra hướng nghiên cứu hiện đại cho sử học Việt Nam.

Nhiều công trình tiêu biểu ra đời từ những chuyến điền dã ấy như Khởi nghĩa Lam Sơn, Truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 và 1288. Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục nghiên cứu sâu về lịch sử chiến tranh, nghệ thuật quân sự và các giá trị truyền thống của dân tộc, với hàng chục công trình lớn được công bố.

Một dấu ấn nổi bật trong sự nghiệp của ông là công trình Lịch sử và văn hóa Việt Nam – Tiếp cận bộ phận, được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2017. Đây là công trình duy nhất thuộc lĩnh vực sử học được trao giải thưởng này trong đợt xét tặng lần thứ V. Công trình thể hiện cách tiếp cận đa tuyến, toàn diện đối với lịch sử Việt Nam cả về không gian và thời gian.

Người góp phần hiện đại hóa nền sử học Việt Nam

Trong nghiên cứu, GS Phan Huy Lê luôn đề cao vai trò của sử liệu gốc và phương pháp tiếp cận khoa học. Ông chủ trương khai thác tối đa các nguồn tư liệu, trở về với văn bản nguyên gốc, đồng thời coi điều tra thực địa là yêu cầu quan trọng của nghiên cứu lịch sử. Ông cũng là người đưa bộ Đại Việt sử ký toàn thư bản Nội các quan bản từ Paris về Việt Nam để phục vụ nghiên cứu và viết công trình khảo cứu về văn bản này.

Bên cạnh đó, ông đi đầu trong việc vận dụng phương pháp liên ngành, chú trọng khai thác địa bạ, châu bản, gia phả và các nguồn tư liệu địa phương. Ông chủ trì Chương trình nghiên cứu gia phả Việt Nam, đồng thời thực hiện nhiều công trình về các nhân vật lịch sử, lịch sử địa phương và các dòng họ, góp phần bổ sung những lát cắt sinh động cho bức tranh lịch sử dân tộc.

GS Phan Huy Lê còn là người thầy của nhiều thế hệ học trò. Trong gần nửa thế kỷ giảng dạy, ông tham gia đào tạo tại nhiều trường đại học trong và ngoài nước, trực tiếp hướng dẫn 17 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ và tiến sĩ khoa học. Ông cũng là người có công xây dựng ngành Việt Nam học và Đông phương học, sáng lập Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, góp phần thúc đẩy nghiên cứu Việt Nam học theo hướng liên ngành và hội nhập quốc tế.

Nhận xét về ông, Chủ tịch Hội Khảo cổ học Việt Nam, PGS.TS Tống Trung Tín khẳng định GS Phan Huy Lê là "một cây đại thụ của nền sử học Việt Nam", luôn làm việc cẩn trọng, khoa học và theo đuổi đến cùng sự hoàn thiện trong mỗi vấn đề nghiên cứu. Suốt cuộc đời, ông đã dành trọn tâm huyết để phụng sự đất nước bằng tri thức, góp phần làm sáng tỏ lịch sử dân tộc và đào tạo nhiều thế hệ những người làm sử kế cận.

Với những cống hiến cho khoa học và giáo dục, GS Phan Huy Lê được phong học hàm Giáo sư năm 1980, danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 1988, Nhà giáo Nhân dân năm 1994; được trao nhiều phần thưởng cao quý như Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Văn hóa Á châu Fukuoka, Huân chương Cành cọ Hàn lâm của Chính phủ Pháp. Năm 2011, ông trở thành người đầu tiên của ngành khoa học xã hội Việt Nam được bầu làm Viện sĩ Thông tấn của Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn thuộc Học viện Pháp quốc.

Mai Nguyễn















Home Icon VỀ TRANG CHỦ