Hoàn thiện cơ chế phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo
Góp phần thực hiện mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường - cơ quan chủ trì soạn thảo dự án luật, việc xây dựng chính sách của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) nhằm hoàn thiện các chính sách, pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường, quản lý, sử dụng không gian biển, nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên biển; thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh tế biển theo hướng hiện đại, thống nhất, đồng bộ và khả thi; thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước và nội luật hóa các cam kết quốc tế về biển và đại dương; góp phần thực hiện mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển.

Quang cảnh cuộc họp
Việc xây dựng chính sách của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ với hệ thống pháp luật có liên quan, khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp, loại bỏ rào cản thể chế, bổ sung các khoảng trống pháp luật; bảo đảm quản lý hiệu quả, khai thác, sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên, không gian biển; nâng cao năng lực quản trị đại dương, năng lực phòng ngừa, kiểm soát rủi ro môi trường biển trong dài hạn. Cùng với đó, việc xây dựng chính sách của Luật này nhằm tăng cường bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, hệ sinh thái biển và hải đảo; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; tạo môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp và các chủ thể tham gia khai thác, sử dụng, quản lý không gian biển, phát triển kinh tế biển và bảo vệ môi trường biển, hải đảo; đáp ứng yêu cầu thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững kinh tế biển, nâng cao chất lượng sống của cộng đồng người dân ven biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia.
Trên cơ sở đó, các chính sách được xây dựng nhằm đạt được các mục tiêu trọng tâm như hoàn thiện thể chế quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, tạo nền tảng pháp lý đồng bộ phát triển bền vững kinh tế biển; tạo cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, đột phá để thúc đẩy phát triển mạnh mẽ các hoạt động kinh tế trên biển; bảo đảm khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên biển gắn với bảo vệ, bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái, sử dụng hiệu quả không gian biển và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia trên biển.
Cùng với đó, việc xây dựng chính sách của luật này nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ, phòng ngừa, kiểm soát và khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường biển và hải đảo; bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái biển và vùng bờ nhạy cảm, kiểm soát xói lở, suy thoái, ô nhiễm; hoàn thiện cơ chế phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, chuyển trọng tâm từ “xử lý” sang “chủ động phòng ngừa, quản lý rủi ro”. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực biển và hải đảo, cắt giảm quy định không cần thiết...
Chính sách ưu đãi bảo đảm không vượt khung pháp luật hiện hành
Tại cuộc họp, các đại biểu đã tập trung góp ý, hoàn thiện 4 chính sách mà cơ quan chủ trì soạn thảo đề xuất: hoàn thiện quy định về quản lý, sử dụng không gian biển, bảo đảm phân định rõ trách nhiệm trong quản lý, thực thi, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển (chính sách 1); hoàn thiện quy định về các quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển (chính sách 2); hoàn thiện quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo (chính sách 3); xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, vượt trội để thúc đẩy phát triển mạnh mẽ các hoạt động kinh tế trên biển (chính sách 4).

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú phát biểu
Kết luận cuộc họp, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú lưu ý, dự thảo cần tiếp tục được rà soát để bảo đảm bám sát các nghị quyết, kết luận của Trung ương, đặc biệt là Kết luận số 18. Trong đó, cần làm rõ các nội dung về phân quyền giữa Trung ương và địa phương (nhất là trong Chính sách 1 và 3), cũng như yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
Chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù (Chính sách 4) là nội dung có tính đột phá trong thúc đẩy phát triển kinh tế biển và hải đảo. Nhấn mạnh điều này, Thứ trưởng cho rằng, việc thiết kế chính sách ưu đãi, đặc biệt về thuế và ngân sách, phải bảo đảm không vượt khung pháp luật hiện hành. Trường hợp đề xuất cơ chế đặc thù vượt thẩm quyền, cần báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét.
Về quốc phòng, an ninh, nguồn lực và thủ tục hành chính, theo Thứ trưởng, cần làm rõ hơn các quy định trong chính sách 2 liên quan đến quyền, nghĩa vụ, bảo đảm không ảnh hưởng đến chủ quyền, an ninh quốc gia. Đồng thời, phải đánh giá đầy đủ tác động về nguồn nhân lực, tài chính, nhất là trong bối cảnh phát triển các hoạt động kinh tế mới trên biển và hải đảo. Các thủ tục hành chính liên quan đến cả 4 chính sách cũng cần được rà soát, đánh giá cụ thể, bảo đảm minh bạch, khả thi.
Thành An
2 giờ trước
2 giờ trước
5 giờ trước
4 phút trước
26 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước