🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Hồ sơ Số 10/2026: Ai biết thân nhân - Đồng đội của liệt sĩ Huỳnh Văn Hai và 98 cán bộ chiến sĩ K20 – Đoàn V7?

1 giờ trước
Có những hồ sơ chứng tích chiến tranh tưởng như chỉ nằm yên trong kho lưu trữ, phủ bụi theo năm tháng. Nhưng đôi khi, từ những trang giấy cũ, những cái tên, địa danh, hay một dòng ghi chú ngắn ngủi… lại mở ra hành trình đi tìm những con người thật của lịch sử. CDEC F034603831194, số nhật ký 02-1460-68, là một trong những tài liệu như vậy. Hồ sơ do chuyên viên nghiên cứu Tạ Thu Phong và nhóm biên tập của Dự án TTU–VWAI vừa hoàn thành.

Bản đồ địa điểm quân đội Mỹ đã thu giữ tài liệu năm 1968.

Bản gốc của hồ sơ là một tài liệu do quân đội Mỹ thu giữ ngày 05/02/1968, trong trận đánh tại khu vực An Mỹ – Thủ Dầu Một – tỉnh Bình Dương, gần tọa độ 48P XT 838 190 theo hệ quy chiếu Indian 1960.

Thời điểm đó là những ngày chiến sự Tết Mậu Thân 1968 đang diễn ra ác liệt. Thủ Dầu Một khi ấy được xem là cửa ngõ chiến lược phía bắc Sài Gòn, nơi quân đội Hoa Kỳ và QLVNCH bố trí lực lượng dày đặc nhằm tạo thành vành đai phòng thủ bảo vệ đô thị lớn nhất miền Nam.

Trong khung cảnh chiến tranh khốc liệt ấy, những tài liệu bị bỏ lại trên chiến trường có thể chỉ là mảnh giấy vô danh. Nhưng đã trở thành những đầu mối quý giá để tìm lại thân nhân liệt sĩ, đồng đội cũ và những số phận từng mất tích trong chiến tranh.

Một người lính ra đi từ xóm An Định Cần

Trong hồ sơ này, cái tên được nhắc đến rõ nhất là Huỳnh Văn Hai. Ông sinh năm 1942, thuộc đơn vị C20 – Đoàn V7, chức vụ Tiểu đội trưởng.

Huỳnh Văn Hai nhập ngũ ngày 18/5/1962, vào Đảng tháng 8/1967, từng được khen thưởng một lần và chưa từng bị kỷ luật. Quê quán: xóm An Định Cần, xã Tân An, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

Những dòng ghi chép ngắn ngủi ấy cho thấy phía sau hồ sơ là một con người thật, có quê hương, có gia đình. Tài liệu ghi rõ: cha là Huỳnh Văn Tĩnh, mẹ đã mất nhưng không ghi tên, không có thông tin về vợ và con.

Di vật để lại gồm một chiếc đồng hồ và một tấm ảnh của mẹ. Những kỷ vật này được giao cho người cậu ruột tên Mười Danh, làm cấp dưỡng ở đơn vị 700. Ngoài ra, còn giấy Quyết định công nhận đảng viên chính thức, văn bản này do ông Trần Văn Vy – đại diện Đảng ủy Đoàn 37 ký.

Trong nhiều cuộc tìm kiếm thân nhân liệt sĩ, chính những chi tiết tưởng như nhỏ bé như vậy lại trở thành chìa khóa. Có gia đình không còn nhớ phiên hiệu đơn vị, nhưng vẫn nhớ chuyện người con khi ra đi mang theo chiếc đồng hồ, hay giữ tấm ảnh của mẹ như một vật không rời.

Liệt sĩ Huỳnh Văn Hải ngã xuống ở Mương Cải hay Măng Cải?

Hồ sơ ghi Huỳnh Văn Hai tử trận ngày 02/11/1967 trong trận đánh tại Mương Cải. Tuy nhiên, khi đối chiếu với các tài liệu CDEC khác và diễn biến giao tranh cùng thời điểm, nhiều khả năng ngày hi sinh chính xác là 01/11/1967.

Địa danh “Mương Cải” hay “Mướn Cái” nhiều khả năng là cách ghi chép theo âm đọc địa phương của Măng Cải, nay thuộc khu vực ấp Măng Cải, xã Lộc Thiện, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước theo tên gọi cũ trước tháng 7/2025.

Một chi tiết khiến người đọc lặng đi là dòng ghi chú ngắn: “không lấy được thi hài”. Điều đó có nghĩa là vào thời điểm lập báo cáo, đơn vị chưa thể thu hồi thi thể, chưa làm hồ sơ báo tử, cũng chưa kịp báo tin cho gia đình.

Vì vậy, rất có thể suốt nhiều năm sau chiến tranh, gia đình ở xóm An Định Cần, xã Tân An, huyện Càng Long, Trà Vinh vẫn không biết rõ người con của mình đã hi sinh ở đâu và trong hoàn cảnh nào.

Bởi thế, việc công bố lại đầy đủ thông tin về Huỳnh Văn Hai hôm nay mang ý nghĩa như một lời nhắn tìm gửi về quê nhà.

Biết đâu ở đâu đó trong xã Tân An vẫn còn những người từng nghe nhắc đến một người con nhập ngũ năm 1962, vào Đảng năm 1967, rồi mất tin ở mặt trận Lộc Ninh cuối năm ấy.

Những người lính đã mất liên lạc trong chiến tranh?

Hồ sơ không chỉ nhắc đến một trường hợp tử trận. Trong danh sách của đại đội K20, tài liệu còn ghi 5 quân nhân vắng mặt, với nhiều dấu hiệu cho thấy có thể đã mất liên lạc với đơn vị.

Năm người đó gồm: Bạch Văn Thấu – Tiểu đội phó – bị ốm. Trần Văn Thuận (có thể là Phạm Văn Thuận) – chiến sĩ – bị ốm. Trịnh Văn Lượng – chiến sĩ – bị ốm. Luyện – chiến sĩ – đang điều trị tại Quân y 12. Nguyễn Văn Việt – Tiểu đội phó – được cử đi học lớp y tá của E.

Ba người trong số này có thông tin nhân thân khá đầy đủ: Nguyễn Văn Việt sinh năm 1946, nhập ngũ 29/3/1964, vào Đoàn 01/1965, thành phần tiểu nông, văn hóa lớp 4. Cha là Nguyễn Văn Khừng, mẹ là Mai Thị Não. Quê quán: xã Biển Bạch, huyện Mười Cư, tỉnh Bạc Liêu.

Phạm Văn Thuận (hoặc Trần Văn Thuận) sinh năm 1942, nhập ngũ 30/9/1966, vào Đoàn 1/1966, thành phần bần nông, văn hóa lớp 4. Cha mẹ đã mất. Vợ là Phạm Thị Vừng. Quê quán: Định Hóa, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.

Bạch Văn Thấu sinh năm 1948, nhập ngũ 28/04/1966, tiểu đội phó. Vào Đoàn 15/02/1965, thành phần bần nông, văn hóa lớp 4. Cha là Khương Văn Đông, mẹ là Đặng Thị Mạc. Quê quán: xã An Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Nam Hà.

Một chi tiết đặc biệt: Bạch Văn Thấu không cùng họ với cha là Khương Văn Đông. Đây có thể là chi tiết quan trọng để nhận diện đúng gia đình.

Theo ghi chú trong hồ sơ, đơn vị không biết Bạch Văn Thấu và Phạm Văn Thuận đang ở đâu vào thời điểm lập danh sách? Những cái tên này vì thế có thể là những trường hợp từng mất liên lạc giữa chiến tranh.

Những báo cáo danh sách quân nhân tử trận và vắng mặt có trong tài liệu bị thu giữ.

98 người lính trong một Đại đội, sau hòa bình có ai còn sống?

Một phần rất giá trị của hồ sơ là danh sách 98 quân nhân đang có mặt tại đơn vị K20 – Đoàn V7 ngày 24/12/1967. Danh sách này gần như tái hiện đầy đủ mạng lưới đồng đội của một đơn vị quân Giải phóng ngay trước Tết Mậu Thân.

Chỉ cần một người còn sống nhận ra một cái tên quen, một ký ức có thể mở ra: ai từng ở cùng tiểu đội, ai làm cứu thương, ai là cấp dưỡng, ai đã hi sinh trước trận đánh.

Ban chỉ huy Đại đội:

1.Lâm A

2.Hồ Hữu Đức

3.Lê Xuân Ngân

4.Phan Huỳnh/Huynh

5.Khổng Khoe/Khoa.

Cán bộ ban chỉ huy:

1.Trần Hữu Chiến

2.Nguyễn Văn Chanh/Chánh

3.Hồ Văn Trên

4.Nguyễn Văn Bá

5.Vũ Văn Minh

6.Lê Văn Chích

7.Nguyễn Minh Thế.

Ban chỉ huy Trung đội:

1.Nguyễn Văn Biên

2.Huỳnh Văn Lơ/Lộ

3.Phạm Văn Trân/Chấn

4.Phạm Thành Công

5.Mai Đăng Thuận

6.Nguyễn Hữu Hoàng

7.Nguyễn Văn Diên

8.Lê Văn Nhơn

9.Nguyễn Văn Thép/Ghép

10.Hồ Phước Hiệp

11.Trần Văn Trung

12.Nguyễn Văn Dũng.

Danh sách chiến sĩ trong các Tiểu đội:

1.Châu Tấn Long

2.Trương Thanh Dân

3.Phạm Chiến Đấu

4.Đặng Thanh Hùng

5.Nguyễn Văn Sơn

6.Phùng Đình Xá

7.Phạm Đình Hoạt

8.Nguyễn Văn Bình

9.Đào Công Tắc

10.Nguyễn Văn Sần/Sẵn

11.Võ Hiếu Nghĩa

12.Dương Văn Minh

13.Trần Hữu Huê/Huệ

14.Phạm Văn Mười/Muội

15.Lê Thành Điện

16.Nguyễn Văn Dũng

17.Nguyễn Hoàng Trọng

18.Trần Quang Hải

19.Nguyễn Văn Diễn/Điện/Điền

20.Nguyễn Văn Lập

21.Dương Văn Thành

22.Huỳnh Văn Bảy

23.Trần Minh Lý

24.Nguyễn Văn Huề/Huế

25.Ngô Văn Định/Đình

26.Khổng Xuân Đài

27.Lưu Công Chuyện

28.Trịnh Xuân Ký

29.Trương Văn Hùng

30.Phan Văn Tân

31.Nguyễn Văn Đấu

32.Nguyễn Duy Giản

33.Huỳnh Văn Nghiệp

34.Mầu Quang Vinh

35.Nguyễn Phi Hùng

36.Nguyễn Văn Sơn

37.Vũ Đức Vọng

38.Phạm Thanh Hồng

39.Dương Văn Có

40.Lê Văn Công

41.Nguyễn Văn Cà

42.Nguyễn Văn Hùng/Hưng

43.Trương Xuân Bính

44.Nguyễn Văn Bì

45.Nguyễn Văn Tấn

46.Nguyễn Văn Tòng

47.Nguyễn Văn Dân/Dẫn

48.Huỳnh Văn Phất

49.Vũ Bá Linh

50.Phạm Thanh Biên

51.Hoàng Tấn Kiệt

52.Nguyễn Văn Quyết

53.Nguyễn Hồng Hào

54.Giang Văn Học

55.Nguyễn Văn Hùng/Hưng

56.Nguyễn Sĩ Liên

57.Mai Viết Đại

58.Bùi Hữu Đáng

59.Hứa Văn Cương

60.Nguyễn Tấn Lực

61.Lê Đình Nguyên/Nguyễn

62.Đinh Văn Thu

63.Nguyễn Sơn Hải

64.Đặng Thái Khanh

65.Võ Quang Dũng

66.Trần Văn Quát

67.Phạm Văn Xẹp

68.Hoàng Minh Hà

69.Nguyễn Đình Lâm

70.Phạm Văn Tất

71.Lê Ngọc An/Án

72.Vũ Ngọc Oanh

73.Lợi

74.Nguyễn Đăng Quí

75.Lương

Khi lịch sử gọi lại những cái tên và số phận mỗi con người

Trong danh sách ấy có nhiều cái tên khá đặc biệt như Khổng Khoe, Khổng Xuân Đài, Mầu Quang Vinh, Phùng Đình Xá, Phạm Văn Xẹp, Giang Văn Học, Bùi Hữu Đáng, Vũ Ngọc Oanh…

Nếu ai đó từng nghe nhắc đến những cái tên này trong câu chuyện của cha, ông mình, rất có thể họ từng là đồng đội của nhau trong K20 – Đoàn V7, từng chiến đấu ở Lộc Ninh, Măng Cải, Bù Đốp hoặc Thủ Dầu Một cuối năm 1967.

Từ nhiều nguồn đối chiếu, có thể khẳng định Huỳnh Văn Hai thuộc C20/K20/V7, có liên hệ với Đoàn 37 tức E273, hi sinh trong trận đánh Măng Cải ngày 01/11/1967. Thi thể ông không thu hồi được sau trận đánh.

Khu vực Măng Cải – Lộc Thiện – Lộc Ninh vì vậy vẫn được xem là một địa bàn tìm kiếm lịch sử quan trọng. Nhưng trước hết, việc công bố lại những cái tên, quê quán và mối quan hệ gia đình là điều cần thiết.

Biết đâu, từ một ký ức cũ trong một ngôi nhà nhỏ ở Trà Vinh, Bạc Liêu hay Ninh Bình, một mảnh ghép lịch sử sẽ được tìm lại?

Bởi sau gần sáu thập niên, hồ sơ chiến tranh ấy vẫn còn khả năng làm một điều rất giản dị mà sâu sắc: Gọi lại tên của những con người đã đi qua chiến tranh, để người sống có cơ hội tìm lại họ.

Hãy tin rằng: Nếu bạn chung tay góp sức cùng chúng tôi, những người lính ấy sẽ có thêm hi vọng được trở về cùng gia đình và người thân, trong mùa xuân này!

Hà Nội, 14/3/2026
TTNL

Trái Tim Người Lính















Home Icon VỀ TRANG CHỦ