🔍
Chuyên mục: Thời sự

Hiệu quả từ thực tiễn xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp các vùng đồng bào dân tộc thiểu số

2 giờ trước
Thực tiễn phát triển đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với chính quyền các cấp, không chỉ ở hiệu quả quản lý mà còn ở khả năng thích ứng linh hoạt, gần dân, sát dân và giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh từ cơ sở.

Niềm vui của các em học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng.

Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp là bước đi cụ thể hóa chủ trương lớn của Đảng về đổi mới tổ chức bộ máy, hướng tới xây dựng một nền hành chính hiện đại, phục vụ, lấy người dân làm trung tâm. Ý nghĩa của mô hình này không chỉ dừng lại ở việc giảm bớt tầng nấc trung gian hay nâng cao hiệu quả điều hành, mà còn thể hiện rõ tư duy đổi mới trong quản trị xã hội, đặc biệt trong điều kiện phát triển không đồng đều giữa các vùng, miền.

Đối với khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, nơi còn nhiều khó khăn về kinh tế-xã hội, hạn chế về tiếp cận dịch vụ công và thông tin, việc tổ chức lại bộ máy chính quyền theo hướng tinh gọn, gần dân càng có ý nghĩa thiết thực. Đây không chỉ là giải pháp hành chính, mà còn là một bước tiến quan trọng nhằm bảo đảm quyền tiếp cận chính sách của người dân, thu hẹp khoảng cách phát triển, đồng thời củng cố niềm tin của đồng bào đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Cơ sở lý luận và định hướng đúng đắn của Đảng

Những chủ trương của Đảng về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả không chỉ xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của quá trình phát triển đất nước, mà còn có nền tảng sâu sắc từ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng một nền hành chính thật sự của dân, do dân và vì dân. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng vai trò của chính quyền cơ sở, xem đây là cấp gần dân nhất, trực tiếp gắn bó với đời sống nhân dân và là nơi thể hiện rõ nhất bản chất của chế độ.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, một bộ máy nhà nước đúng nghĩa phải “trọng dân, gần dân, hiểu dân và có trách nhiệm với dân”. Người nhiều lần phê phán tình trạng bộ máy cồng kềnh, quan liêu, xa rời thực tiễn, coi đó là một trong những nguyên nhân làm giảm sút hiệu quả quản lý và ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân. Vì vậy, Người yêu cầu tổ chức chính quyền phải gọn nhẹ, rõ chức năng, nhiệm vụ, tránh chồng chéo, đồng thời bảo đảm mỗi cán bộ, công chức thật sự là “công bộc của dân”, lấy việc phục vụ nhân dân làm mục tiêu cao nhất.

Từ góc nhìn đó, việc đổi mới tổ chức bộ máy chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn hiện nay không chỉ là sự điều chỉnh về mặt hành chính, mà còn là sự kế thừa và phát triển nhất quán tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Việc giảm bớt các tầng nấc trung gian, tăng cường tính trực tiếp giữa chính quyền với người dân, nâng cao trách nhiệm giải trình của từng cấp chính quyền chính là những biểu hiện cụ thể của việc đưa tư tưởng “gần dân, vì dân” vào thực tiễn quản lý Nhà nước.

Đáng chú ý, đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi điều kiện tiếp cận thông tin và dịch vụ công còn hạn chế, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống nhân dân, không để ai bị bỏ lại phía sau càng có ý nghĩa sâu sắc. Việc tổ chức lại bộ máy chính quyền theo hướng tinh gọn, hiệu quả không chỉ giúp nâng cao chất lượng phục vụ, mà còn tạo điều kiện để đồng bào tiếp cận chính sách một cách thuận lợi hơn, qua đó bảo đảm quyền lợi chính đáng và nâng cao chất lượng cuộc sống. Đây chính là sự hiện thực hóa sinh động quan điểm của Người về việc xây dựng một nhà nước thật sự vì lợi ích của nhân dân, nhất là những nhóm yếu thế trong xã hội.

Nghị quyết số 18-NQ/TW Hội nghị Trung ương 6 khóa XII là dấu mốc đặc biệt quan trọng, thể hiện rõ tư duy đổi mới của Đảng trong lĩnh vực này. Điểm cốt lõi trong chủ trương của Đảng là đổi mới bộ máy phải gắn với đổi mới phương thức hoạt động của chính quyền, bảo đảm bộ máy sau sắp xếp không chỉ gọn hơn về hình thức mà phải mạnh hơn về chất lượng vận hành.

Điều đó có nghĩa là việc tinh gọn không nhằm cắt giảm cơ học, càng không phải thu hẹp vai trò của chính quyền cơ sở, mà là để khắc phục những bất cập kéo dài trong tổ chức và điều hành, tạo điều kiện cho mỗi cấp chính quyền phát huy đúng chức năng, nhiệm vụ của mình, nâng cao tính chủ động, tính chịu trách nhiệm và khả năng phản ứng chính sách trước các vấn đề nảy sinh từ thực tiễn. Tinh thần đó tiếp tục được khẳng định nhất quán tại Đại hội XIII của Đảng, khi Đảng xác định rõ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam “tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phục vụ nhân dân, phát triển đất nước”.

Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng về tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước, trong đó nhấn mạnh rõ hơn bản chất phục vụ của nền hành chính, lấy người dân làm trung tâm, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo. Chính vì vậy, việc tổ chức chính quyền địa phương theo hướng hợp lý hơn, giảm bớt các khâu trung gian không cần thiết, tăng cường tính trực tiếp giữa chính quyền với người dân là yêu cầu khách quan, phù hợp với xu thế phát triển của nền quản trị hiện đại.

Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp có thể được nhìn nhận như một bước cụ thể hóa chủ trương lớn của Đảng về tiếp tục đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước. Việc triển khai mô hình này phản ánh rõ nỗ lực đưa bộ máy hành chính vận hành theo hướng thông suốt hơn, rõ trách nhiệm hơn, gần dân hơn và hiệu quả hơn. Đặc biệt, trong bối cảnh nhiều vùng dân tộc thiểu số còn gặp khó khăn về hạ tầng, giao thông, trình độ tiếp cận thông tin và dịch vụ công, thì việc tổ chức lại bộ máy chính quyền theo hướng tinh gọn càng có ý nghĩa thiết thực. Nó không chỉ giúp rút ngắn khoảng cách hành chính giữa chính quyền với người dân, mà còn góp phần nâng cao khả năng tiếp cận chính sách, bảo đảm quyền lợi chính đáng của đồng bào, từ đó củng cố niềm tin xã hội và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Có thể khẳng định, những định hướng lớn của Đảng về sắp xếp tổ chức bộ máy không chỉ tạo ra cơ sở chính trị và lý luận cho việc triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, mà còn cung cấp căn cứ để đánh giá đúng ý nghĩa của mô hình này trong thực tiễn. Đó là một bước đi phù hợp với yêu cầu phát triển mới của đất nước, thể hiện rõ bản lĩnh đổi mới, tư duy khoa học và tính nhất quán trong đường lối lãnh đạo của Đảng, đặc biệt trong mục tiêu xây dựng một nền hành chính thật sự vì dân, gần dân và phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn.

Những chuyển biến tích cực trong đời sống đồng bào dân tộc thiểu số

Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp trong thời gian gần đây không chỉ mang ý nghĩa đổi mới tổ chức bộ máy, mà còn tạo ra những chuyển biến thực chất trong đời sống kinh tế-xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số. Những thay đổi này thể hiện rõ ở ba phương diện: hiệu quả quản lý ở cơ sở, khả năng tiếp cận chính sách và sự cải thiện toàn diện về chất lượng đời sống của người dân.

Thứ nhất, về hiệu quả quản lý và điều hành, việc tinh gọn bộ máy đã góp phần khắc phục tình trạng chồng chéo, giảm tầng nấc trung gian, qua đó nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của chính quyền cơ sở. Khi quy trình ra quyết định và tổ chức thực hiện được rút ngắn, chính quyền cấp cơ sở có điều kiện phản ứng nhanh hơn trước những vấn đề phát sinh trong thực tiễn, đặc biệt tại các vùng dân tộc thiểu số, nơi điều kiện địa lý khó khăn, khoảng cách hành chính lớn. Điều này phù hợp với xu hướng quản trị hiện đại, trong đó nhấn mạnh tính linh hoạt, hiệu quả và lấy người dân làm trung tâm.

Thứ hai, về khả năng tiếp cận và thụ hưởng chính sách, mô hình mới đã tạo điều kiện để các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được triển khai nhanh chóng và sát thực tiễn hơn. Trước đây, do sự phân tán về đầu mối và sự kéo dài trong quy trình hành chính, nhiều chính sách hỗ trợ chưa đến được với người dân một cách kịp thời. Tuy nhiên, khi bộ máy được tổ chức lại theo hướng tinh gọn, chính quyền cơ sở đóng vai trò rõ nét hơn trong việc trực tiếp đưa chính sách đến với người dân. Các chính sách đúng đắn đối với đồng bào dân tộc thiểu số đã góp phần cải thiện rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của người dân, thu hẹp dần khoảng cách phát triển giữa các vùng miền.

Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, tỷ lệ hộ nghèo tại các tỉnh miền núi phía Bắc đã giảm đáng kể trong những năm gần đây, phản ánh hiệu quả của các chính sách phát triển kinh tế-xã hội đối với vùng dân tộc thiểu số (GSO, 2023). Điều này cho thấy, khi bộ máy chính quyền hoạt động hiệu quả hơn, việc triển khai chính sách cũng đạt được kết quả rõ nét hơn trong thực tiễn. Bên cạnh đó, các đánh giá quốc tế cũng ghi nhận sự cải thiện trong chất lượng quản trị công ở cấp cơ sở tại Việt Nam.

Báo cáo của UNDP Việt Nam về Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) cho thấy nhiều địa phương đã có tiến bộ trong các lĩnh vực như minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân (UNDP, 2022). Những cải thiện này đặc biệt có ý nghĩa đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi trước đây còn hạn chế về khả năng tiếp cận thông tin và dịch vụ công.

Theo đánh giá của Ủy ban Dân tộc, việc triển khai đồng bộ các chính sách dân tộc, kết hợp với đổi mới tổ chức bộ máy chính quyền địa phương, đã góp phần từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng dân tộc thiểu số và vùng đồng bằng, đồng thời cải thiện rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của người dân (CEMA, 2023). Không chỉ dừng lại ở các chỉ số kinh tế, sự thay đổi còn thể hiện ở việc người dân ngày càng chủ động hơn trong tham gia các hoạt động phát triển cộng đồng, nâng cao nhận thức và tăng cường niềm tin vào chính quyền.

Thực tiễn tại các địa phương cụ thể như Hà Giang, Sơn La càng cho thấy rõ hiệu quả của mô hình này. Tại Hà Giang, việc sắp xếp lại bộ máy hành chính gắn với phân cấp, phân quyền đã giúp các chính sách hỗ trợ sinh kế, vay vốn ưu đãi, chuyển giao kỹ thuật sản xuất được triển khai nhanh chóng và đúng đối tượng.

Tại Sơn La, cải cách hành chính đi đôi với tổ chức lại bộ máy đã góp phần rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân vùng sâu, vùng xa tiếp cận dịch vụ công. Những thay đổi này không chỉ cải thiện điều kiện sống mà còn tạo dựng niềm tin vững chắc của người dân đối với chính quyền.

Quan trọng hơn, những chuyển biến tích cực trong đời sống kinh tế-xã hội đã kéo theo sự thay đổi về nhận thức và tâm lý xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số. Khi người dân cảm nhận rõ sự quan tâm, hỗ trợ thiết thực từ chính quyền, họ không chỉ tích cực tham gia vào các chương trình phát triển mà còn củng cố niềm tin vào đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước. Niềm tin đó là nền tảng quan trọng để tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, bảo đảm sự ổn định chính trị-xã hội và tạo động lực cho phát triển bền vững.

Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đã và đang khẳng định vai trò là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy sự thay đổi tích cực và toàn diện ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Ông HZiệp Buôn Krông, Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, Chủ tịch Hội nông dân xã Đăk Liêng (Đắk Lắk) cho biết, chủ trương sáp nhập chính quyền địa phương 2 cấp là một bước đi đúng đắn, phù hợp với yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.

Qua thời gian triển khai, chính sách này đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực ở cơ sở. Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền hai cấp, xã Đắk Liêng mới được hình thành trên cơ sở sáp nhập 3 xã, với quy mô dân số hơn 22.800 người, 38 thôn, buôn.

Tổng biên chế giảm từ 73 xuống còn 66, tinh giản 7 biên chế. Số lượng người hoạt động không chuyên trách giảm mạnh, từ 40 xuống còn 3 người. Các cơ quan được sắp xếp lại hợp lý hơn, giảm tình trạng trùng lặp nhiệm vụ. Việc sàng lọc, bố trí lại cán bộ giúp lựa chọn được những người có năng lực, trách nhiệm. Giảm chi thường xuyên, từ đó có thêm nguồn lực đầu tư cho phát triển. Hiệu quả phục vụ người dân được nâng lên khi thủ tục hành chính từng bước được rút gọn, thời gian giải quyết nhanh hơn.Tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của chính quyền cơ sở.

Với đồng bào dân tộc thiểu số, việc tinh giản bộ máy chính quyền có ý nghĩa rất quan trọng như: Tạo điều kiện cho bà con tiếp cận chính sách tốt hơn, bộ máy gọn nhẹ giúp thông tin được truyền tải nhanh, rõ ràng đến người dân, nâng cao chất lượng phục vụ ở vùng sâu, vùng xa vì cán bộ được bố trí hợp lý, có năng lực, gần dân hơn.

Khi chính quyền hoạt động hiệu quả, các chương trình hỗ trợ sản xuất, giảm nghèo được triển khai tốt hơn làm tăng cơ hội phát triển kinh tế. Đặc biệt là việc góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa, bởi vì khi đời sống được cải thiện, người dân có điều kiện quan tâm hơn đến văn hóa truyền thống. Điều này giúp tăng niềm tin của đồng bào đối với Đảng và Nhà nước. Đây cũng là động lực để đồng bào dân tộc thiểu số tích cực tham gia phát triển địa phương.

Thượng tá Đinh Hồng Lê, Phó Công an xã Đăk Long, tỉnh Quảng Ngãi nhận định, sau khi sáp nhập chính quyền 2 cấp, tỉnh Quảng Ngãi có sự tác động tích cực rõ nét nhất đó tại các xã miền núi.

Cụ thể, việc xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm...) chất lượng càng cao, các chính sách xã hội được quan tâm, tiếp cận các dịch vụ công thuận lợi và chất lượng hơn, người dân tộc thiểu số có cơ hội phát triển nhiều hơn, lòng tin của người dân đối với Đảng được củng cố chặt hơn.

Quảng Ngãi là tỉnh nghèo, nhiều xã miền núi đời sống kinh tế xã hội còn khó khăn, việc tinh gọn bộ máy sẽ tạo ra những nguồn lực và lợi thế mới. Khi tập trung ngân sách đầu tư phát triển kinh tế vào các lợi thế mà địa phương có thế mạnh giao thương thông thoáng, kết nối các trung tâm kinh tế thuận lợi là tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững.

Đây cũng là cơ hội để các xã miền núi có thể phát huy thế mạnh về vị trí địa lý, khí hậu, văn hóa... để phát triển kinh tế, rút ngắn khoảng cách giữa các vùng miền. Quảng Ngãi đang xây dựng Măng Đen thành nơi du lịch sinh thái, xây dựng thương hiệu sâm Ngọc Linh, tập trung phát triển cây công nghiệp cà phê, cao su, chè, sầu riêng,... tại xã như: Đăk Hà, xã Bờ Y, xã Đăk Long...

Bài học kinh nghiệm từ một số địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã chỉ ra: cần tiếp tục nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở, đặc biệt ở vùng dân tộc thiểu số; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý và phục vụ người dân; tăng cường giám sát, đánh giá hiệu quả chính sách, bảo đảm đúng đối tượng, đúng mục tiêu; tiếp tục hoàn thiện thể chế để mô hình chính quyền hai cấp vận hành ổn định, hiệu quả lâu dài; phải đặt người dân làm trung tâm trong mọi hoạt động của chính quyền; linh hoạt, sáng tạo trong tổ chức thực hiện, phù hợp với thực tiễn địa phương.

Những bài học này cho thấy, để chính sách đúng đắn của Đảng đi vào thực tiễn, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền rõ ràng hơn. Với cấp cơ sở, cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ phục vụ công tác quản lý hiệu quả hơn.

Không để các thế lực thù địch xuyên tạc chính sách của Đảng

Mặc dù sau thời gian thực hiện một số khó khăn đang còn tồn đọng cần được tháo gỡ như: Một số văn bản hướng dẫn của cấp trên chưa đồng bộ, chưa cụ thể, gây lúng túng trong thực hiện, cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu, nhiều máy móc đã xuống cấp, áp lực công việc lớn trong khi biên chế giảm, tiêu chuẩn cán bộ, nhất là cán bộ thôn, buôn chưa được quy định đầy đủ… Những khó khăn này phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả vận hành mô hình mới, nhưng những thành tựu đạt được là không thể phủ nhận. Đảng ta luôn thẳng thắn đánh giá, nhìn nhận những bất cập để liên tục điều chỉnh trong thực thi chính sách.

Tuy nhiên, lợi dụng điều này, một số thế lực thù địch đã đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc nhằm phủ nhận ý nghĩa của việc tinh gọn bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp, và tập trung nhiều vào khu vực đồng bào dân tộc thiểu số. Chúng cho rằng việc giảm cấp trung gian sẽ làm chính quyền “xa dân hơn”, “giảm hiệu quả phục vụ”, hoặc “bỏ rơi vùng đồng bào dân tộc thiểu số”. Luận điệu này không chỉ thiếu căn cứ khoa học mà còn đi ngược lại thực tiễn khách quan đang diễn ra tại nhiều địa phương.

Cần khẳng định rõ rằng, tinh gọn bộ máy không đồng nghĩa với thu hẹp vai trò của chính quyền, càng không phải là cắt giảm cơ học các cấp quản lý. Bản chất của chủ trương này là tái cấu trúc tổ chức theo hướng hợp lý hơn, hiệu quả hơn, nhằm loại bỏ những khâu trung gian không cần thiết, làm rõ trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan, từ đó nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động. Nếu trước đây, việc tồn tại nhiều tầng nấc trung gian có thể dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, chậm trễ trong xử lý công việc, thì nay, khi bộ máy được sắp xếp lại, quy trình được rút ngắn, trách nhiệm được quy định rõ ràng hơn, chính quyền càng có điều kiện gần dân, sát dân và phục vụ nhân dân tốt hơn.

Thực tiễn sinh động và hiệu quả tại các địa phương vùng dân tộc thiểu số đã bác bỏ một cách thuyết phục những luận điệu sai trái này. Việc tinh gọn bộ máy gắn với tăng cường phân cấp, phân quyền đã giúp chính quyền cơ sở chủ động hơn trong giải quyết các vấn đề phát sinh, rút ngắn thời gian triển khai chính sách, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ công của người dân. Những chuyển biến tích cực trong đời sống kinh tế-xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số, từ giảm nghèo, cải thiện hạ tầng đến nâng cao chất lượng giáo dục và y tế, chính là minh chứng rõ ràng nhất cho hiệu quả của chủ trương này. Thực tiễn không chỉ là thước đo chân lý, mà còn là câu trả lời đanh thép đối với mọi sự xuyên tạc, bóp méo.

Cần thấy rõ rằng, những luận điệu phủ nhận thành quả đổi mới bộ máy không đơn thuần là sự nhận thức lệch lạc, mà trong nhiều trường hợp còn mang động cơ chính trị, nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Bằng cách khai thác những khó khăn cục bộ, thổi phồng những hạn chế nhất thời, các thế lực này tìm cách gieo rắc hoài nghi, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Tuy nhiên, lịch sử cách mạng Việt Nam đã nhiều lần chứng minh rằng, bất cứ chủ trương nào của Đảng, nếu xuất phát từ lợi ích của nhân dân và được thực tiễn kiểm nghiệm, đều có sức sống bền vững và nhận được sự đồng thuận rộng rãi của xã hội.

Trong bối cảnh đó, việc nhận diện đúng và kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái không chỉ là yêu cầu về mặt tư tưởng, mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đấu tranh ở đây không chỉ bằng lý lẽ, mà trước hết và trên hết là bằng thực tiễn, mà bằng những kết quả cụ thể trong cải thiện đời sống nhân dân, bằng sự chuyển biến rõ nét trong hiệu quả quản lý và bằng niềm tin ngày càng được củng cố của nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số.

Có thể khẳng định rằng, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp không những không làm “xa dân” như một số luận điệu xuyên tạc, mà ngược lại, đang góp phần đưa chính quyền đến gần dân hơn, phục vụ nhân dân thiết thực hơn. Chính sự gần dân, sát dân ấy là điều kiện tiên quyết để xây dựng một nền hành chính thật sự vì dân, đồng thời là nền tảng vững chắc để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc - nguồn sức mạnh quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thực tiễn tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã cho thấy rõ hiệu quả của mô hình này: bộ máy hành chính được tinh gọn, quy trình xử lý công việc được rút ngắn, khả năng tiếp cận chính sách của người dân được cải thiện, đời sống kinh tế-xã hội từng bước được nâng lên. Quan trọng hơn, những chuyển biến đó đã góp phần củng cố niềm tin của đồng bào đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, đồng thời tăng cường sự gắn kết giữa Đảng với nhân dân - nền tảng vững chắc của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong bối cảnh vẫn tồn tại những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận ý nghĩa của việc tinh gọn bộ máy, chính những kết quả thực tiễn cụ thể, sinh động tại cơ sở là minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ các quan điểm sai trái. Điều đó một lần nữa khẳng định rằng mọi chủ trương của Đảng, khi xuất phát từ lợi ích của nhân dân và được triển khai phù hợp với thực tiễn, đều có sức sống bền vững và nhận được sự đồng thuận rộng rãi của xã hội.

Từ đó có thể thấy, việc tiếp tục hoàn thiện và phát huy hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp không chỉ là yêu cầu của cải cách hành chính, mà còn là nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và bảo đảm phát triển bền vững. Đồng thời, đây cũng là con đường thiết thực để hiện thực hóa tư tưởng “lấy dân làm gốc”, góp phần củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc - nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Tiến sĩ Rơ Đăm Thị Bích Ngọc Viện Xã hội học và Tâm lý học - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

TIN LIÊN QUAN


















Home Icon VỀ TRANG CHỦ