Hạt gạo kể chuyện Việt Nam bằng sự đổi mới sáng tạo và khát vọng toàn cầu

Anh hùng Lao động Hồ Quang Cua - Ảnh: Văn Kim Khanh
-Thưa Anh hùng Lao động Hồ Quang Cua, ký ức về hạt gạo xưa ở Cần Thơ và vùng Tây Đô có ý nghĩa thế nào với khát vọng gạo ngon hôm nay?
-Ông Hồ Quang Cua: Đó là câu chuyện gạo Cần Thơ thời chưa thâm canh tăng vụ, khi Châu Hạng Vỏ, gạo trắng tép… nức tiếng khắp vùng Tây Đô. Khi ấy, hạt gạo không chỉ để no bụng mà còn là một phần của văn minh lúa nước, gắn với đời sống tinh thần và niềm tự hào của người nông dân.
Sau ngày đất nước thống nhất, cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật về giống đã mở ra thời kỳ mới cho sản xuất lúa. Chúng ta chuyển sang lúa tăng vụ, từ 2 vụ rồi 3 vụ mỗi năm, nhằm giải quyết bài toán an ninh lương thực. Điều đó rất cần thiết trong bối cảnh lúc bấy giờ. Tuy nhiên, cũng từ đây, nhiều giống gạo ngon truyền thống dần lui vào dĩ vãng.
Máy bơm nước, máy làm đất, máy sạ lúa, máy phun thuốc, rồi đến drone… lần lượt thay thế sức người. Nông nghiệp hiện đại hơn, năng suất cao hơn, nhưng vô hình trung, nền văn minh lúa nước với những giá trị tinh tế của hạt gạo bị đẩy lùi vào nỗi nhớ và dĩ vãng.
Suốt thời gian dài, lúa gạo Việt Nam chủ yếu để ăn và bán cho người có thu nhập thấp. Vì phẩm chất chưa đáp ứng được nhu cầu của tầng lớp trung lưu và thị trường cao cấp. Đời sống nông dân vì thế cũng ít khi được cải thiện, dù vẫn phải gánh chịu nhiều nhọc nhằn.
Chính từ ký ức về những hạt gạo ngon xưa ấy, tôi luôn trăn trở: Tại sao Việt Nam – một quốc gia trồng lúa hàng đầu thế giới – lại không có một loại gạo ngon mang thương hiệu quốc tế ? Tại sao hạt gạo Việt chưa kể được câu chuyện của chính mình với thế giới ? Đó là động lực ban đầu cho hành trình đổi mới sáng tạo của chúng tôi sau này.

UBND TP. Cần Thơ tặng quà cho Anh hùng Lao động Hồ Qang Cua, dịp cuối năm 2025 - Ảnh:V.K.K
-Khát vọng tạo ra “gạo ngon nhất thế giới” của ông bắt nguồn từ đâu, thưa ông?
-Ông Hồ Quang Cua: Từ khi còn học trung học, tôi đã ấn tượng với một sạp gạo thơm lừng vì mùi gạo mới, vốn đã nức tiếng ở châu Âu và trên trăm quốc gia. Và, lại được trồng ngay trên vùng đất quê mình. Điều đó khiến tôi tin rằng, Việt Nam hoàn toàn có thể làm ra những giống gạo đẳng cấp thế giới.
Sau khi tốt nghiệp đại học và về công tác tại quê nhà, từ năm 1980 tôi bắt đầu sưu tập các giống lúa thơm và đem về trồng. Sang thập kỷ 90, nhân dịp công tác tại Thái Lan, tôi tìm hiểu kỹ hơn về các giống lúa thơm của họ, đặc biệt là Khao Dak Mali – giống gạo đã tạo dựng được thương hiệu toàn cầu.
Đến cuối thập kỷ 90, khi phân tích phẩm chất giống lúa ST3 trong một đề tài tại Sở Khoa học và Công nghệ Sóc Trăng. Tôi nhận thấy giống này đã tiệm cận phẩm chất gạo Khao Dak Mali, cả về chỉ số hình học, lý – hóa tính lẫn chất lượng cơm gạo.
Từ đầu thế kỷ 21, tôi chính thức bắt đầu cuộc hành trình chọn tạo giống lúa thơm “để được như Thái Lan”. Chúng tôi thành lập ê- kíp, tạo điều kiện cho các thành viên đi học nâng cao, tìm đất lập trại, xây dựng cơ sở nghiên cứu và tìm nguồn tài trợ.
Cuộc hành trình ấy kéo dài suốt 20 năm. Đến năm 2019, gạo ST25 vượt Thái Lan, chiếm ngôi đầu bảng tại cuộc thi gạo ngon nhất thế giới. Cuối năm đó, giống được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận là giống quốc gia. Sau 4 năm, ST25 tiếp tục được công nhận lại lần thứ hai, và đến năm 2025, giành giải nhất lần thứ ba.
Đặc biệt, năm 2021, tôi vinh dự được Chủ tịch nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ. Với tôi, đó không chỉ là vinh dự cá nhân mà còn là sự ghi nhận cho khát vọng nâng tầm hạt gạo Việt Nam.

Anh hùng Lao động Hồ Quang Cua chinh phục thế giới danh hiệu 'Gạo ngon nhất thế giới lần thứ 3' - Ảnh: T.L
-Trong hành trình ấy, ông và cộng sự phải vượt qua những “ải” nào ?
-Ông Hồ Quang Cua: Khi ST3 thành công vào năm 2001, hạt giống đã đến tay nông dân, và nhiều người đã biết đến vị ngon của “cây lúa thần nông”. Nhưng cũng từ thời điểm đó, một số nhà khoa học trong và ngoài nước bắt đầu lên tiếng.
Từ một giáo sư chuyên ngành giống, đến một tiến sĩ Việt Nam làm chánh chuyên viên của Tổ chức nông nghiệp và Liên Hợp quốc, hay một chuyên viên cao cấp của Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế (IRRI), đều có chung một thông điệp:
“Hãy khiêm tốn, chớ trèo cao, đừng hòng có lúa ngàn đô/tấm…”
Tuy nhiên, tôi luôn bình tĩnh và chưa bao giờ tự ti. Bởi từ năm 2001, chúng tôi đã có ST3 – một giống lúa có chất lượng tiệm cận Khao Dak Mali, dù vẫn còn những hạn chế như dễ nhiễm bạc lá, có gạo đục…
Biết được giống gốc của ST3 là VDD20 (hạt ngắn), được lai xa từ giống lúa thơm với hai giống lúa thơm bản địa hạt ngắn của Đài Loan, nhóm chúng tôi đã tổ chức lai tạo lúa thơm ở Đồng bằng sông Cửu Long với lúa Tám Tiến Vua ở miền Bắc.
Quá trình lai kéo dài 2 năm, sau đó phải chọn thuần 5,5 năm (tương đương 11 vụ) trước khi gửi đi khảo nghiệm quốc gia. Đến năm 2018, quy trình này mới hoàn thành.
Nhờ vậy, gạo ST25 có tính mới hoàn toàn và tính khác biệt rõ rệt về phẩm chất so với tất cả các loại gạo khác. Khi ST25 đạt giải nhất từ năm 2023, ông Jeremis Zwenger đã nói một câu rất đáng nhớ:
“Think rice, think Thailand” – câu của người Thái – nay trở thành “Think rice, think Thailand and Viet Nam”.
Với tôi, đó là sự khẳng định rằng hạt gạo Việt Nam đã thật sự bước vào sân chơi toàn cầu bằng chính giá trị sáng tạo của mình.
-Theo ông, hiệu quả và tác động của hành trình này đối với nông dân và thương hiệu gạo Việt Nam là gì ?
-Ông Hồ Quang Cua: Cùng với nhóm gạo mềm cơm như Jaomin 85, OM 5451, Đài Thơm 8 – vốn đã làm chủ thị trường thế giới từ nhiều năm trước – việc gạo ST25 góp mặt suốt 8 năm tại các hội nghị và hội thi gạo ngon nhất thế giới đã nâng tầm vị thế hạt gạo Việt Nam.
Hiện nay, gạo ST25 có giá từ 1.000 USD/tấn trở lên, cao nhất thế giới. Giá lúa đầu mùa gần thu đạt trên 9.000 đồng/kg, cao gấp rưỡi so với nhóm gạo mềm thông dụng. Nhờ đó, hàng ngàn hộ nông dân có lãi từ 35 đến 50 triệu đồng/ha, đặc biệt ở vùng lúa – tôm.
Đây là một động lực rất lớn, không chỉ về kinh tế mà còn về tinh thần. Nông dân thấy được giá trị thực sự của việc trồng lúa chất lượng cao, thay vì chỉ chạy theo sản lượng.
Thương hiệu gạo Việt Nam hiện đang được biết đến rộng rãi trên thế giới. Hàng ngàn doanh nghiệp đang kinh doanh gạo có hiệu quả. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa có một thương hiệu gạo quốc gia được chứng nhận và cấp phát cho các doanh nghiệp theo một quy chuẩn chất lượng thống nhất.
Trong khi đó, Thái Lan đã xây dựng và quản lý nhãn hiệu chứng nhận gạo thơm suốt 20 năm qua, thu về hàng tỷ đô la mỗi năm. Nhờ vậy, đời sống nông dân của họ được cải thiện rõ rệt.
Tôi tha thiết mong Việt Nam cũng sẽ làm được điều tương tự. Khi có một thương hiệu gạo quốc gia mạnh, được quản lý bài bản, nông dân và doanh nghiệp sẽ cùng hưởng lợi. Đó sẽ là niềm vui chung của những người làm lúa và cũng là cách để hạt gạo Việt Nam tiếp tục kể câu chuyện đổi mới sáng tạo của mình với thế giới.
Văn Kim Khanh