Hành trình gian nan của cây cà phê tại châu Á

Tác giả: Joseph M. Walsh/ Light Books & NXB Phụ nữ Việt Nam
Tất tần tật về cà phê
Cuốn sách là chuyến hành trình hấp dẫn đưa độc giả băng qua những lục địa, xuyên suốt dòng chảy lịch sử để khám phá nguồn gốc, sự phát triển và sức ảnh hưởng sâu rộng của một trong ba thức uống phổ biến nhất thế giới.
Hành trình gian nan của cây cà phê tại châu Á
Cây cà phê phải mất hai thế kỷ để chứng minh giá trị của mình tại châu Á. Trước khi chứng minh được tiềm năng kinh tế của mình, cây cà phê đã bị từ chối và xem nhẹ ở các đồn điền.

Ấn Độ đang là nước xuất khẩu cà phê đứng thứ bảy trên thế giới. Ảnh minh họa: C.W.
Cây cà phê được đưa từ Aden tới Ấn Độ, tại bờ biển Malabar, vào khoảng năm 1700, mặc dù có người khẳng định nó được trồng tại thành phố Mysore của nước này từ rất lâu trước năm đó. Truyền thuyết kể rằng loại cây này ban đầu do người hành hương Hồi giáo - Baba Booden [1] mang tới.
Ông mang “bảy quả mọng” từ Ả Rập sang vào khoảng năm 1600 rồi trồng quanh căn lều của mình trên những ngọn đồi ở Mysore, mà tới giờ ở gần đó người ta vẫn còn thấy những cây cà phê hơn trăm tuổi.
Văn bản đầu tiên ghi nhận về việc trồng cà phê ở Ấn Độ là một tác phẩm Hà Lan có tựa đề Những lá thư từ Malabar của Jacob Visscher - giáo sĩ tại Cochin. Trong một lá thư thuộc tập sách này, ông kể: “Cây cà phê được trồng làm cảnh trong các khu vườn ở đó và cho ra rất nhiều trái, những trái này đạt độ chín tới nhưng lại không có hương vị tinh tế như cà phê Mocha”.
Không biết chính xác những lá thư này được viết năm nào nhưng lời nói đầu của biên tập viên người Hà Lan đề năm 1743 nên ta có thể kết luận loài cây này được đưa vào và được mọi người biết tới ở Ấn Độ trước năm đó, mặc dù không có báo cáo chính thức nào về cây cà phê hay sản phẩm liên quan tại đất nước này trước năm 1822.
Và mặc dù chắc chắn đã được trồng ở đó từ rất sớm, có vẻ cà phê không được chú ý nhiều, chẳng có tác phẩm Ấn Độ nào nhắc tới loài cây này cho tới khi có Tiểu luận của Heyne, xuất bản năm 1800, trong một bài viết của tập sách này chúng ta chỉ được nghe bảo rằng bấy giờ cà phê được bán tại các chợ ở Bangalore và Seringapatam.
Hiện tại, cà phê được trồng trên khắp Ấn Độ, từ ranh giới phía bắc của Mysore đi về phía nam tới những đỉnh cao và sườn dốc của dãy Tây Ghats ở Mũi Comorin, Coorg và Travancore, ở vùng núi Wayanad và Nilgiri, cũng như trên những sườn đồi Shevaroy và Pulney.
Vào năm 1880, hơn 500.000 mẫu đất được dành ra để trồng cà phê ở Cochin, Madras, Mysore, Travancore, Belgaum và tỉnh Bengal, trong đó gần 200.000 mẫu đã có cây trưởng thành. Một phần rất lớn đất đai ở Burma, vốn vẫn còn trong trạng thái rừng nguyên sinh không tạo ra lợi nhuận do gần như hoàn toàn thiếu vắng hoạt động khai thác năng lượng tự nhiên từ phía người bản địa, đã thành công được chuyển đổi sang trồng cà phê sinh lợi.
Đồng thời, ở những vùng đồi ở bờ đông Vịnh Thái Lan, Nam Kỳ (Việt Nam) và các khu định cư eo biển, việc trồng cà phê được tiến hành ở mức độ còn hạn chế, một vài mẫu cà phê chất lượng tốt được trưng bày tại cuộc Triển lãm năm 1862.
Cây cà phê được người Hà Lan đưa từ Java đến đảo Ceylon vào năm 1720. Tại đó, họ bắt đầu trồng loại cây này nhưng không thành công, nỗ lực của họ bị giới hạn ở vùng đất thấp quanh khu vực Galle và Negombo - một địa điểm hóa ra không có thổ nhưỡng và nhiệt độ thuận lợi, đồng thời người bản địa cũng phản đối sự đổi mới này.
Mặc dù đã sản xuất được một lượng nhỏ cà phê có chất lượng tuyệt vời, bất chấp những trở ngại nêu trên, người ta nhận thấy trồng cà phê ở đó không đem lại hiệu quả cao, khi đem so sánh với sản phẩm của Java. Nhưng dù có một quãng thời gian bị người Hà Lan bắt tạm ngưng trồng trọt, cà phê vẫn không bị người bản địa Ceylon từ bỏ hoàn toàn.
Trong khoảng thời gian cấm đoán đó, họ đã biết giá trị thương mại của món này và tiếp tục trồng cà phê với số lượng ít. Sau khi người Anh chiếm được đảo của người Moors, họ thu gom cà phê tại những ngôi làng, đem hạt đã tách vỏ tới Galle và Colombo, rồi dùng chúng để đổi lấy dụng cụ ăn uống, vải bông và đồ trang sức lặt vặt.
Mặt khác, cũng có người khẳng định cà phê đã được trồng ở Ceylon rất lâu trước khi người Hà Lan hay người Bồ Đào Nha đến đây nhưng người bản địa chưa từng nghe nói tới việc dùng nó pha chế nước uống, họ chỉ dùng lá non để nấu cà ri và lấy những bông hoa mỏng manh như hoa lài trang trí cho đền chùa.
Tuy nhiên, khi chiếm đóng Ceylon, sau khi nước này đầu hàng người Anh năm 1825, quân Anh phát hiện cây cà phê mọc rất nhiều xung quanh những đền chùa ở Kandy và còn thấy những vườn cà phê rộng lớn được chăm bón rất tốt trên bờ sông Mahaweli và ở gần Cung điện hoàng gia.
[1] Hay Baba Budan, là một tu sĩ Sufi sống vào thế kỷ 17, được biết đến như người đã mang hạt cà phê từ Trung Đông đến Ấn Độ, góp phần quan trọng trong việc phát triển ngành cà phê tại quốc gia này.
Joseph M. Walsh/ Light Books & NXB Phụ nữ Việt Nam
1 ngày trước
20 phút trước
13 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước