Hàng Việt vào EU: Lợi thế thuế quan giảm dần, doanh nghiệp đối mặt 'mê cung' tuân thủ
Mối lo mới nhất phải kể đến việc EU chính thức áp dụng miễn thuế nhập khẩu đối với một số loại nguyên liệu đầu vào trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp (có hiệu lực từ ngày 1/1/2026). Theo đó, tất cả các nhà nhập khẩu trong EU đều có thể hưởng ưu đãi miễn thuế, không phân biệt quốc gia xuất xứ hàng hóa, ngoại trừ Nga và Belarus.
Thu hẹp vị thế cạnh tranh
Để được miễn thuế vào EU, hàng hóa phải là nguyên liệu đầu vào được sử dụng trong quy trình sản xuất tiếp theo tại EU. Một số sản phẩm có thể kèm theo yêu cầu cụ thể về mục đích sử dụng, hoặc giới hạn về số lượng miễn thuế (hạn ngạch). Đối với phần vượt hạn ngạch, thuế nhập khẩu thông thường sẽ được áp dụng.

Các DN Việt cần giữ mối quan hệ dài hạn với đối tác EU để duy trì vị thế cạnh tranh trước rủi ro giảm dần lợi thế thuế quan và ‘mê cung’ tuân thủ.
Thoạt nghe cứ nghĩ đây sẽ là cơ hội cho hàng Việt. Bởi lẽ, nếu doanh nghiệp (DN) Việt Nam xuất khẩu (XK) các mặt hàng thuộc danh mục miễn thuế, đặc biệt là các sản phẩm chưa được giảm thuế hoàn toàn theo lộ trình Hiệp định thương mại tự do (EVFTA), thì đây là cơ hội để tiếp cận thị trường với mức thuế ưu đãi hơn, giúp tăng khả năng cạnh tranh về giá.
Tuy nhiên, trong lưu ý được Thương vụ Việt Nam tại Thụy Điển (kiêm nhiệm Đan Mạch, Iceland) đưa ra hôm 19/1/2026, cho rằng thách thức lớn nhất nằm ở chỗ chính sách miễn thuế này áp dụng cho nhiều nước không có FTA với EU.
“Điều đó đồng nghĩa với việc các nước là đối thủ cạnh tranh trong cùng phân khúc với Việt Nam cũng có thể XK vào EU với mức thuế tương đương, khiến lợi thế thuế quan từ EVFTA của Việt Nam bị thu hẹp”, phía thương vụ tỏ ra thận trọng.
Điều đáng nói, EVFTA yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc xuất xứ, còn chính sách miễn thuế mới của EU lại không yêu cầu xuất xứ ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các đối thủ ngoài khối. Và đây chính là mối lo cho hàng Việt khi XK vào EU.
Chính vì vậy, phía thương vụ có khuyến nghị DN Việt Nam cần chủ động theo dõi danh mục hàng hóa được miễn thuế và mức hạn ngạch (nếu có), đồng thời rà soát lại danh mục sản phẩm XK của mình để xác định cơ hội và rủi ro cụ thể. Các DN cần nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo nguồn cung ổn định và giữ mối quan hệ dài hạn với các đối tác EU. Đây là yếu tố then chốt để duy trì vị thế cạnh tranh.
Ngoài vấn đề nêu trên, một mối lo khác là các ngành phát thải cao của Việt Nam trong thời gian tới sẽ gặp thách thức với thuế carbon của EU với “mê cung” tuân thủ. Cụ thể, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) đã bước vào giai đoạn thực thi chính thức từ ngày 1/1/2026, yêu cầu các nhà nhập khẩu EU phải mua chứng chỉ để bù đắp cho lượng khí thải carbon tích hợp trong hàng hóa nhập khẩu từ sáu lĩnh vực phát thải cao gồm sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón, điện và hydro.
Giá của chứng chỉ CBAM được tính toán dựa trên giá đấu giá tín chỉ phát thải thuộc Hệ thống giao dịch phát thải của EU (EU ETS). Với giá EU ETS hiện tại là khoảng 80 euro/tấn CO2, tác động tài chính tiềm tàng là rất lớn.
Như ngành thép của Việt Nam được cho là chịu tác động nặng nề nhất do doanh thu hàng tỷ USD từ XK sang EU, ngành xi măng và phân bón lại đối mặt với những rào cản riêng vì lượng phát thải gián tiếp từ điện năng sử dụng trong quá trình sản xuất các mặt hàng này phải được khai báo, tính toán theo quy định của CBAM.
TS. Scott McDonald, chuyên gia Quản lý chuỗi cung ứng và logistics, nói rằng điều này có nghĩa là các hoạt động sản xuất tiêu tốn nhiều năng lượng có thể làm tăng đáng kể chi phí carbon cho các mặt hàng XK của Việt Nam.
Tăng gánh nặng chi phí tiềm tàng
TS. Scott McDonald chỉ rõ các phương thức sản xuất thâm dụng carbon và phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch tạo ra bất lợi cạnh tranh lớn, khi mà cường độ phát thải ở Việt Nam cao hơn đáng kể so với mức trung bình của EU.
Không chỉ vậy, từ ngày 1/1/2026, việc khai báo hải quan đối với hàng hóa thuộc diện quản lý của CBAM đòi hỏi các yêu cầu về chứng từ và báo cáo mới, làm tăng thêm gánh nặng hành chính cho các thủ tục XK vốn đã phức tạp.
Vậy nhưng, nhiều DN Việt vẫn thiếu nhận thức đầy đủ về các quy định kiểm kê carbon và phát thải khí nhà kính – điều này có thể cản trở khả năng tuân thủ các yêu cầu của CBAM. TS. McDonald cho rằng cần đặc biệt quan tâm tới các chi phí tiềm tàng do thiếu chứng từ.
“Khi DN xuất khẩu Việt Nam không thể cung cấp dữ liệu phát thải đã được xác minh hoặc khi không có dữ liệu đáng tin cậy cụ thể cho từng quốc gia, giá trị mặc định của lượng phát thải tích hợp trong hàng hóa sẽ được tính dựa trên cường độ phát thải trung bình của mười nhà XK có mức phát thải cao nhất, được điều chỉnh theo các yếu tố khu vực. Điều này có thể làm gia tăng chi phí đáng kể”, TS. McDonald cảnh báo.
Ngoài hai mối lo lớn kể trên, cần kể thêm đến việc EU hồi tháng 12/2025 cho biết sẽ triển khai một loạt biện pháp siết chặt kiểm soát đối với hàng hóa nông sản – thực phẩm nhập khẩu, bao gồm việc tăng 50% số lượng kiểm tra an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) đối với các nước thứ ba, đồng thời tăng 33% các cuộc kiểm toán tại các trạm kiểm soát biên giới của các quốc gia thành viên.
Do đó, các DN xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong năm 2026 này cần đặc biệt quan tâm đến chất lượng và dư lượng hóa chất để tránh hàng hóa bị trả lại hoặc tiêu hủy tại EU, gây ảnh hưởng uy tín của công ty và phát sinh thêm các chi phí.
Hoặc như một số quy định mới liên quan đến phúc lợi động vật ở EU đang dần chuyển từ “khuyến nghị đạo đức” sang yêu cầu bắt buộc trong năm 2026 cũng là một thách thức lớn trong cho XK thủy sản của Việt Nam.
Như chia sẻ của bà Kim Thu, chuyên gia thị trường tôm của Hiệp hội Chế biến và XK thủy sản (Vasep), từ năm 2026, nhiều chuỗi bán lẻ lớn tại thị trường EU và Anh yêu cầu tôm nước ấm phải được gây ngất hoàn toàn (thường bằng điện) trước khi ngâm đá, thay thế phương pháp sốc lạnh truyền thống. Quy định này đã được các nhà bán lẻ như Tesco, Marks & Spencer, Sainsbury’s hay Waitrose đưa vào chính sách mua hàng, gắn trực tiếp với điều kiện duy trì tư cách nhà cung cấp.
Như băn khoăn của bà Kim Thu, điểm khác biệt của rào cản này là không thể xử lý bằng giấy tờ hay chứng thư đơn thuần. DN buộc phải đầu tư lại công nghệ thu hoạch và sơ chế, thay đổi quy trình vận hành và kiểm soát chặt chẽ hơn khâu vận chuyển tôm sống. Chi phí đầu tư cho một dây chuyền gây ngất điện là không nhỏ trong bối cảnh biên lợi nhuận ngành tôm ngày càng bị thu hẹp.
Thế Vinh
58 phút trước
3 giờ trước
17 giờ trước
22 giờ trước
11 ngày trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
2 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
Vừa xong
Vừa xong
Vừa xong
1 phút trước
3 phút trước
4 phút trước
11 phút trước
11 phút trước
12 phút trước
12 phút trước
14 phút trước
17 phút trước