🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Hạ tầng và chuyển đổi số là chìa khóa kéo giảm chi phí logistics

1 giờ trước
Dù đã vươn mình trở thành một trong 20 nền kinh tế thương mại lớn nhất thế giới với kim ngạch xuất nhập khẩu tiệm cận 800 tỷ USD song Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với một nghịch lý khi chi phí logistics quá cao đang 'bào mòn' lợi nhuận của doanh nghiệp.

Logistics hiện chiếm hơn 20% tổng chi phí vận hành của nhiều doanh nghiệp

Chi phí bào mòn lợi nhuận

Sau bốn thập niên Đổi mới, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong 20 nền kinh tế thương mại lớn nhất thế giới với kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm tiệm cận 800 tỷ USD. Quy mô thương mại ngày càng mở rộng không chỉ phản ánh năng lực sản xuất của nền kinh tế mà còn đặt ra yêu cầu phải nâng cấp toàn diện năng lực kết nối và lưu chuyển hàng hóa.

Chính vì vậy, những năm gần đây, Chính phủ tập trung nguồn lực đầu tư hàng loạt công trình hạ tầng chiến lược. Các dự án không triển khai riêng lẻ mà được quy hoạch theo hướng liên kết đường bộ, đường biển, hàng không, khu công nghiệp và trung tâm logistics, tạo thành một hệ thống thống nhất, tạo nền tảng cho chuỗi cung ứng vận hành hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, niềm vui chưa “đầy gang” nhiều doanh nghiệp mất ngủ vì chi phí logistics lại bào mòn lợi nhuận vì nhiều nguyên do. Ông Phan Minh Thông, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CP Phúc Sinh, cho biết, với doanh nghiệp xuất khẩu, logistics không chỉ là cước tàu; hàng hóa còn phải đi qua vận chuyển nội địa, kho bãi, cảng biển, phụ phí và nhiều thủ tục trước khi ra thị trường. Mỗi khâu tăng thêm đều làm phần lợi nhuận còn lại mỏng đi.

Trong 6 tháng đầu năm nay, lợi nhuận gộp của Phúc Sinh trước chi phí tài chính đạt khoảng 41 tỷ đồng, nhưng riêng chi phí logistics đã lên tới 22 tỷ đồng, tương đương hơn một nửa khoản lợi nhuận này. Đó là con số rất khó tưởng tượng đối với một doanh nghiệp xuất khẩu. Nguyên nhân không chỉ đến từ việc cước vận tải quốc tế tăng cao mà còn bắt nguồn từ những hạn chế của hạ tầng logistics trong nước.

Không dừng lại ở việc suy giảm lợi nhuận, những hạn chế về năng lực vận tải còn đẩy doanh nghiệp vào thế bị động trên trường quốc tế. Ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Công ty Vina T&T Group cho biết, giá cước tàu biển vận chuyển hàng lạnh đối với trái cây tươi chỉ khoảng 2.800 USD/container nhưng đến nay đã tăng lên 7.800 USD, tương đương mức tăng gần 200%. Thời gian vận chuyển hàng đi Mỹ cũng kéo dài hơn, từ khoảng 20 ngày thì nay phải đi đường vòng kéo dài tới hơn 40 ngày.

Với mặt hàng tươi sống, Vina T&T buộc phải chuyển sang vận tải hàng không. Tuy nhiên, khi thị trường biến động hoặc các hãng hàng không cắt giảm chuyến bay, hàng hóa của doanh nghiệp Việt thường không được ưu tiên. Thậm chí, một số hãng hàng không nước ngoài còn từ chối vận chuyển trái cây Việt Nam vì mặt hàng này có trọng lượng lớn, tiêu tốn nhiên liệu.

Bà Đặng Thị Minh Phương, Chủ tịch Hiệp hội Logistics và Cảng biển TP Hồ Chí Minh cho biết, logistics hiện chiếm hơn 20% tổng chi phí vận hành của nhiều doanh nghiệp nhưng đang trở thành gánh nặng chưa từng có. Ngay cả trong giai đoạn dịch COVID-19, doanh nghiệp cũng không phải đối mặt với mức chi phí cao như hiện nay. Ngoài tác động từ những bất ổn địa chính trị trên thế giới, chi phí logistics trong nước còn bị đẩy lên do hạ tầng chưa theo kịp tốc độ phát triển của nền kinh tế. Doanh nghiệp cũng phải gánh thêm hàng loạt khoản chi cho công nghệ, phần mềm, nhân công cùng nhiều chi phí phát sinh khác.

Cùng kết nối để vượt khó

Qua quá trình hoạt động tại nhiều thị trường, ông Phan Minh Thông nhận thấy các quốc gia có ngành xuất khẩu nông sản phát triển đều xây dựng hệ thống vận tải hàng hóa hiệu quả hơn. Tại nhiều nước, nông sản được vận chuyển từ vùng nguyên liệu hoặc khu công nghiệp đến cảng biển chủ yếu bằng đường sắt chuyên dụng. Hình thức này không chỉ có chi phí thấp hơn vận tải đường bộ mà còn giảm áp lực lên hạ tầng giao thông, vốn dễ xuống cấp khi thường xuyên phải gánh lưu lượng xe tải trọng lớn.

Nhiều khu công nghiệp ở các quốc gia này còn được kết nối trực tiếp với cảng biển thông qua các tuyến đường sắt chuyên biệt. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể vận chuyển khối lượng hàng hóa lớn với chi phí thấp hơn, đồng thời bảo đảm thời gian giao nhận ổn định và nâng cao sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu. Trong khi đó, dù sở hữu hệ thống cảng biển khá phát triển, Việt Nam vẫn chưa có doanh nghiệp vận tải container đủ năng lực tham gia vận chuyển hàng hóa quốc tế, khiến hoạt động xuất khẩu phụ thuộc chủ yếu vào các hãng tàu nước ngoài.

Theo các chuyên gia, trước hết cần hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông đa phương thức gồm đường bộ, đường thủy nội địa, đường sắt, hàng không và cảng biển. Ngoài hạ tầng cần xác định chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển nguồn nhân lực là những trụ cột quan trọng. Doanh nghiệp cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ để tối ưu quy trình sản xuất, quản trị và vận chuyển, đồng thời hướng đến sử dụng năng lượng hiệu quả, giảm phát thải và phát triển bền vững. Đồng thời cần có bổ sung cơ chế phát triển khu thương mại tự do và trung tâm logistics tích hợp. Các trung tâm này sẽ được hưởng nhiều chính sách ưu đãi về thuế, tiền thuê đất và thủ tục đầu tư nhằm nhanh chóng hình thành mạng lưới logistics hiện đại, phục vụ tăng trưởng kinh tế.

Trong bối cảnh thế giới chuyển mạnh sang phát triển bền vững, chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), bà Đặng Thị Minh Phương cho rằng, doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi cách tiếp cận, đặc biệt là tối ưu nguồn lực thông qua mô hình kinh tế chia sẻ. Theo đó, thay vì mỗi doanh nghiệp đầu tư phương tiện riêng nhưng khai thác chưa hết công suất, các doanh nghiệp có thể chia sẻ kho bãi, phương tiện, hệ thống phân phối để giảm chi phí. Mô hình này đã được nhiều quốc gia như Singapore áp dụng hiệu quả.

Trong khi hầu hết doanh nghiệp FDI đều sử dụng các đơn vị logistics chuyên nghiệp để tối ưu chi phí, nhiều doanh nghiệp Việt vẫn tự thực hiện toàn bộ chuỗi logistics, khiến hiệu quả chưa cao.Từ thực tế đó, doanh nghiệp chuyển dần sang vận tải đa phương thức, kết hợp đường bộ với đường thủy và đường sắt; thúc đẩy kinh tế chia sẻ; đẩy nhanh ứng dụng AI và chuyển đổi số; chủ động đáp ứng các tiêu chuẩn xanh của thị trường quốc tế; áp dụng mô hình quản lý tồn kho bởi nhà cung cấp (VMI) nhằm tối ưu dòng tiền và chuỗi cung ứng; đồng thời mạnh dạn thuê ngoài các dịch vụ logistics chuyên nghiệp để tập trung vào hoạt động sản xuất, kinh doanh cốt lõi, bà Đặng Thị Minh Phương đề xuất.

Hương Giang

TIN LIÊN QUAN






























Home Icon VỀ TRANG CHỦ