🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Hà Nội dự kiến chi 300 tỷ đồng đào tạo tiến sĩ: Kỳ vọng lớn, thách thức không nhỏ

13 giờ trước
Chính quyền UBND TP Hà Nội đã chính thức đưa ra dự thảo chính sách hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh (tiến sĩ), với mục tiêu đào tạo khoảng 1.000 tiến sĩ trong giai đoạn 2026-2030, dự kiến tổng kinh phí là hơn 300 tỷ đồng - tức bình quân khoảng 60 tỷ đồng/năm cho chương trình này.

Các tân Tiến sĩ dâng hương tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội). Nguồn: opsa.hpu2.edu.vn

Bước đi chiến lược của Hà Nội

Theo dự thảo, mỗi nghiên cứu sinh trúng tuyển sẽ được hưởng học bổng 15 triệu đồng/tháng trong suốt quá trình học tập. Thành phố cũng chi trả 100% phí công bố bài báo trên các tạp chí quốc tế uy tín thuộc danh mục Web of Science nếu nghiên cứu sinh là tác giả chính hoặc tác giả liên hệ; hỗ trợ chi phí đi hội thảo quốc tế và thực tập ngắn hạn nước ngoài tối đa khoảng 50 triệu đồng/năm. Đặc biệt, dự thảo cũng đề cập chính sách khuyến khích với bằng sáng chế trong/ngoài nước, và thưởng nếu hoàn thành trước hạn.

Theo PGS.TS Bùi Thị An, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng, việc Hà Nội đặt mục tiêu đào tạo tiến sĩ là một bước đi chiến lược nhằm bổ sung nguồn nhân lực tinh hoa, phục vụ cho các lĩnh vực trọng yếu như chuyển đổi số, công nghệ cao, kinh tế xanh, và giải quyết những điểm nghẽn trong quản trị, hoạch định chính sách và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh Việt Nam - và đặc biệt là Thủ đô Hà Nội - đang đặt nhiều kỳ vọng vào việc phát triển nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các ngành như công nghệ thông tin, AI, vi mạch, kỹ thuật… thì kế hoạch này không chỉ là một nỗ lực về số lượng, mà còn là một tín hiệu gửi tới thị trường lao động và các tổ chức quốc tế: Hà Nội muốn trở thành trung tâm nghiên cứu, sáng tạo và đào tạo trình độ cao hơn.

Thực tế, đây không phải lần đầu tiên Việt Nam triển khai các đề án đào tạo tiến sĩ ở quy mô lớn. Trước đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện một số chương trình cấp quốc gia như Đề án 322 đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật tại nước ngoài bằng ngân sách nhà nước; Đề án 911 đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2010-2020 và Đề án 89 nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đại học giai đoạn 2019-2030. Các đề án này đều đặt mục tiêu tăng nhanh số lượng tiến sĩ, đặc biệt là cho các trường đại học công lập.

Về phía địa phương, nhiều nơi cũng có kế hoạch, chương trình riêng để đào tạo tiến sĩ và nâng cao trình độ cán bộ, đặc biệt là cán bộ quản lý, giảng viên hay nhân lực chiến lược phục vụ phát triển kinh tế-xã hội địa phương. Tại Gia Lai, UBND tỉnh vừa ban hành kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, trong đó có cử cán bộ đi đào tạo trình độ tiến sĩ ở các ngành như công nghệ sinh học, quản lý công, vật lý… nhằm đáp ứng nhu cầu triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Cần Thơ có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, trong đó bao gồm 20 tiến sĩ (cả trong và ngoài nước) theo nhu cầu phát triển chính quyền địa phương sau sáp nhập.

Điểm khác biệt so với Hà Nội của các kế hoạch này đó là mục tiêu của các chương trình này không chỉ là số lượng, mà còn nhằm gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn của địa phương - làm sao sau khi hoàn thành tiến sĩ, người được đào tạo có vị trí phù hợp như quản lý sở/ngành, chuyên gia nghiên cứu chiến lược… Vì vậy, các địa phương thường lồng các kế hoạch đào tạo tiến sĩ vào chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho chính quyền, khối giáo dục, khoa học công nghệ, y tế, hoặc cho các chương trình đặc thù như chính quyền 2 cấp, chuyển đổi số, phát triển công nghiệp…

Trong khi đó, Hà Nội xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh giai đoạn 2026-2030, với mục tiêu hỗ trợ đào tạo 1.000 nghiên cứu sinh cho các lĩnh vực gắn với phát triển khoa học, đổi mới sáng tạo và nhu cầu phát triển địa phương. Chính sách này bao gồm học bổng, hỗ trợ công bố quốc tế, thực tập ngắn hạn ở nước ngoài…

GS.TS Đặng Ứng Vận, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Văn phòng Chính phủ cũng đồng tình rằng vấn đề cốt lõi không nằm ở con số 1.000 tiến sĩ mà ở chỗ Hà Nội phải trả lời được một loạt câu hỏi mang tính chiến lược trước khi triển khai. Thành phố cần xác định rõ trong 10-20 năm tới sẽ ưu tiên phát triển những lĩnh vực nào: công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, công nghệ sinh học, quản lý đô thị thông minh hay các ngành khoa học cơ bản phục vụ lâu dài. Mỗi lĩnh vực trọng tâm đó cần bao nhiêu tiến sĩ, bao nhiêu thạc sĩ, bao nhiêu kỹ sư để tạo thành một cấu trúc nhân lực hoàn chỉnh, chứ không thể chỉ đào tạo rời rạc theo nhu cầu cá nhân hay xu hướng nhất thời.

Ông Vận nhấn mạnh rằng, mỗi nghiên cứu sinh được cử đi đào tạo phải gắn với một “địa chỉ sử dụng” cụ thể: sau khi hoàn thành chương trình, họ sẽ tham gia dự án nào, làm việc trong nhóm nghiên cứu nào, đảm nhận vai trò gì trong một chương trình phát triển cụ thể của thành phố. “Đào tạo phải đi liền với kế hoạch sử dụng, giống như xây dựng một công trình lớn thì phải tính toán từ đầu cần bao nhiêu nhân lực ở từng vị trí, chứ không thể đào tạo xong rồi mới tìm chỗ bố trí” - GS.TS Đặng Ứng Vận nêu quan điểm.

Chuyên gia này cũng chỉ ra nếu không có sự gắn kết chặt chẽ đó, việc đào tạo rất dễ bị phân tán, mỗi người theo đuổi một hướng khác nhau, thiếu liên kết thành sức mạnh tập thể. Khi trở về, họ có thể không tìm được môi trường phù hợp, thậm chí chuyển sang lĩnh vực khác hoặc rời khỏi khu vực công. Khi ấy, nguồn lực đầu tư lớn từ ngân sách sẽ khó tạo ra tác động rõ ràng đối với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô. Theo ông, chỉ khi đào tạo được đặt trong một chiến lược tổng thể, có định hướng ngành nghề, có dự án cụ thể và có cơ chế sử dụng minh bạch ngay từ đầu, đề án mới tránh được nguy cơ dàn trải và kém hiệu quả.

Gắn đào tạo tiến sĩ với “bài toán lớn” của Thủ đô

Dự thảo cũng nhấn mạnh rằng nghiên cứu sinh phải cam kết gắn liền đề tài nghiên cứu với các “bài toán lớn”, điểm nghẽn phát triển của Thủ đô, hoặc có cam kết từ đơn vị sử dụng sản phẩm nghiên cứu, doanh nghiệp hoặc giáo sư đại học quốc tế đứng đầu đồng hướng dẫn. Theo TS Nguyễn Tùng Lâm, Phó Chủ tịch Hội Tâm lý Giáo dục Việt Nam, đây là một trong những điểm tích cực nổi bật của chính sách khi đặt mục tiêu gắn chặt quá trình đào tạo với nhu cầu thực tiễn. Cách tiếp cận này, nếu được triển khai nghiêm túc, sẽ giúp đề tài nghiên cứu không tách rời đời sống kinh tế - xã hội.

Tuy vậy, vấn đề đặt ra là liệu các doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ quan quản lý có đủ năng lực để hấp thụ đội ngũ tiến sĩ mới, đồng thời tạo dựng môi trường làm việc tương xứng với trình độ của họ hay không. Nếu không xây dựng được mô hình hợp tác ba bên Nhà nước – nhà trường - doanh nghiệp một cách thực chất, việc đào tạo rất dễ rơi vào tình trạng gia tăng về số lượng nhưng chưa bảo đảm chiều sâu và chất lượng như kỳ vọng.

Một thách thức khác được các chuyên gia chỉ ra đó là con số 300 tỷ đồng trong 5 năm dù là một khoản đầu tư đáng kể, nhưng phân bổ cho 1.000 tiến sĩ thì mỗi người được hỗ trợ trung bình khoảng 300 triệu đồng trong toàn bộ quá trình. Trong khi đó, chi phí đào tạo tiến sĩ ở các nước phát triển có thể gấp nhiều lần mức này, đặc biệt nếu tính đào tạo tại nước ngoài, chi phí hội thảo quốc tế, hoặc đầu tư cho phòng thí nghiệm nghiên cứu chuyên sâu. Vì vậy, 300 tỷ đồng nên là bước khởi động để tạo dòng nhân lực còn để đạt chất lượng “đẳng cấp quốc tế”, cần có các nguồn tài trợ bổ sung từ doanh nghiệp, trường đại học và các quỹ nghiên cứu.

Về tiêu chuẩn đầu ra, dự thảo chính sách yêu cầu tiêu chuẩn khối ngành tự nhiên - kỹ thuật yêu cầu ít nhất hai bài báo quốc tế Q1/Q2 và khối khoa học xã hội - nhân văn yêu cầu một bài Q1/Q2 hoặc một chương sách quốc tế được xuất bản. Thực tế đây là các tiêu chuẩn khá cao nhưng không đồng nghĩa với việc bảo đảm các sản phẩm nghiên cứu có thể chuyển hóa thành giá trị ứng dụng trong thực tiễn, đặc biệt khi thiếu môi trường thử nghiệm, thiếu doanh nghiệp đồng hành hoặc thiếu nguồn lực hỗ trợ sau nghiên cứu.

Vì vậy, bên cạnh việc đặt ra yêu cầu đầu ra chặt chẽ, điều quan trọng là xây dựng cơ chế thực thi và giám sát hiệu quả nhằm bảo đảm các công trình nghiên cứu không chỉ đạt chuẩn công bố quốc tế mà còn tạo ra giá trị thực tiễn cụ thể cho Thủ đô. Nếu thiếu sự công khai, minh bạch trong đánh giá và không bảo đảm không gian tự do học thuật cần thiết, mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ rất khó đạt được như kỳ vọng ban đầu.

GS.TS Đặng Ứng Vận - nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Văn phòng Chính phủ: Thiết kế đề án với “tinh thần doanh nhân”
Khi xây dựng chính sách đào tạo, cần có tư duy như một nhà tổ chức dự án lớn: nhìn thấy giá trị sẽ tạo ra, xác định rõ đích đến, tập trung nguồn lực và giải pháp để đạt mục tiêu đó. Nói cách khác, phải có “tinh thần doanh nhân” trong quản trị chính sách công.
Điều này đồng nghĩa với việc không đào tạo dàn trải, mà tập trung theo nhóm ngành chiến lược, xây dựng các “cụm nhân lực” đủ mạnh để tạo ra đột phá. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia cử nghiên cứu sinh đi học theo chiến lược rõ ràng, sau đó quay về tham gia ngay vào các chương trình trọng điểm, tạo thành sức mạnh tập trung thay vì rời rạc.
Trong đó, Nhà nước phải giữ vai trò điều phối chủ động, từ khâu xác định nhu cầu đến bố trí sử dụng. Không thể phó mặc việc sử dụng đội ngũ tiến sĩ cho cơ chế thị trường với suy nghĩ rằng đào tạo xong thì xã hội tự điều tiết.

Thu Hương

TIN LIÊN QUAN




















Home Icon VỀ TRANG CHỦ