Góc nhìn mới về chiến dịch Phú Xuân 1801: Yếu tố công nghệ quân sự và bài toán phát triển kinh tế di sản
Tầm quan trọng của chuỗi cung ứng khoáng sản chiến lược
Để lý giải sự xuất hiện của các hạm đội phương Tây tại vùng biển Đại Việt đầu thế kỷ 19, nghiên cứu bắt đầu từ bài toán hậu cần quân sự cốt lõi của châu Âu thời kỳ đó là nguồn cung diêm tiêu. Trong nền công nghiệp chế tạo vũ khí trước thế kỷ 20, diêm tiêu chiếm đến 75% thành phần cấu tạo nên thuốc súng. Việc thiếu hụt nguồn nguyên liệu này đồng nghĩa với việc toàn bộ hệ thống súng pháo trở nên vô dụng, đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của các thế lực quân sự.

Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Huy Hiệu cùng Kỹ sư Vũ Đình Thanh trao đổi và đồng thuận về những góc nhìn học thuật mới trong nghiên cứu lịch sử chiến dịch Phú Xuân năm 1801.
Vào giai đoạn đầu những năm 1800, các cường quốc quân sự tại châu Âu đối mặt với sự cạn kiệt nghiêm trọng loại khoáng sản chiến lược này. Quá trình khai thác tại chỗ thông qua việc cạo lớp muối nitrat trên tường các hầm ngầm ở điều kiện khí hậu lạnh giá hoàn toàn không đáp ứng đủ nhu cầu vận hành cỗ máy chiến tranh. Cùng lúc đó, nguồn cung diêm tiêu dồi dào tại khu vực Bengal của Ấn Độ đã bị Đế quốc Anh kiểm soát chặt chẽ thông qua các công ty thương mại và lực lượng quân sự đồn trú.
Đứng trước sự phong tỏa ngặt nghèo này, khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là Đại Việt với hệ thống hang động đá vôi tự nhiên chứa lượng lớn phân dơi tích tụ hàng nghìn năm sinh ra khoáng diêm tiêu tự nhiên tinh khiết, trở thành mục tiêu chiến lược có tính sống còn. Nhu cầu khai thác và kiểm soát nguồn nguyên liệu này được xem là động lực kinh tế và quân sự cốt lõi thúc đẩy các hoạt động can thiệp bằng vũ trang và ngoại giao của phương Tây vào khu vực Nam Trung Bộ. Kỹ sư Vũ Đình Thanh nhận định rằng Napoleon Bonaparte không thể duy trì quyền lực nếu thiếu thuốc súng, và Đại Việt khi đó là một trong những nhà cung cấp diêm tiêu tự nhiên lớn nhất thế giới chưa bị Đế quốc Anh kiểm soát hoàn toàn.
Sự vượt trội về công nghệ quân sự phương Tây tại vùng biển Đại Việt
Theo các tài liệu nghiên cứu, đến năm 1801, cuộc xung đột giữa triều đại Tây Sơn và lực lượng của chúa Nguyễn Ánh đã kéo dài nhiều năm. Tại chiến trường Quy Nhơn thuộc tỉnh Bình Định, lực lượng quân Tây Sơn do Đô đốc Trần Quang Diệu và Đô đốc Võ Văn Dũng chỉ huy đang thiết lập thế bao vây chặt chẽ đối với hàng vạn quân đồn trú. Theo số liệu từ hồi ký của Thứ trưởng Bộ Hải quân Anh John Barrow, lực lượng ngoại quốc đồn trú và đánh thuê tại đây có thể lên tới 66200 người bao gồm lính Pháp, lính đánh thuê Ấn Độ và các nhóm lính khác.

Hình ảnh mô phỏng lực lượng quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Đô đốc Trần Quang Diệu sử dụng hỏa tiễn tấn công lực lượng ngoại quốc đồn trú tại thành Quy Nhơn, thể hiện uy lực của hệ thống vũ khí hỏa công trong giai đoạn lịch sử này.
Triều đình Tây Sơn dưới thời vua Cảnh Thịnh lúc này duy trì sự tự tin vào năng lực phòng thủ của kinh đô Phú Xuân thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Họ dựa trên kinh nghiệm nhiều lần đánh bại các đạo thủy quân nước ngoài bằng hệ thống vũ khí hỏa công và phốt pho tự chế. Thế nhưng, sự kiện kinh đô Phú Xuân thất thủ nhanh chóng vào tháng 6 năm 1801 đã đặt ra nhiều dấu hỏi lớn cho giới chuyên môn khi phân tích lại hồ sơ lịch sử.
Nghiên cứu chỉ ra rằng sự kết hợp của gió Tín phong Đông Nam và gió mùa Tây Nam đã tạo điều kiện cho một hạm đội từ Ấn Độ Dương có thể di chuyển thần tốc dọc theo bờ biển, tiếp cận trực tiếp chiến trường Đại Việt chỉ trong vòng hơn một tháng. Theo giả thuyết của kỹ sư Vũ Đình Thanh, hạm đội này rất có thể là lực lượng Corsair tức lính đánh thuê hoặc cướp biển được cấp phép hoạt động nhà nước, kết hợp cùng hải quân chính quy phương Tây. Lực lượng này không bị ràng buộc bởi các quy tắc chiến tranh thông thường và sở hữu hỏa lực vượt trội.
Cơ sở dữ liệu từ bức thư của Barisy là một sĩ quan phương Tây đương thời đã cung cấp những mô tả chi tiết về việc sử dụng các loại vũ khí công nghệ cao chưa từng xuất hiện tại chiến trường Đại Việt trước đó. Các ghi chép liệt kê hàng loạt khí tài hiện đại nhất thế giới thời bấy giờ như pháo bắn đạn chùm gây sát thương diện rộng, pháo bắn đạn nổ mảnh gang, pháo bắn đạn nung sẵn để kích nổ kho thuốc súng của đối phương, và đạn chì bọc vật liệu nhựa thông gây cháy khiến hệ thống giáp mây của quân phòng thủ Tây Sơn bốc cháy tức thì.

Lực lượng tàu chiến phương Tây được trang bị pháo đạn chùm (Grapeshot) - một phát kiến quân sự tiên tiến thời Napoleon có khả năng tạo ra hỏa lực mạnh trên diện rộng. Bên cạnh đó, các chiến hạm này còn sở hữu ưu thế chiến thuật vượt trội nhờ hệ thống buồm có khả năng di chuyển ngược hướng gió và được trang bị ống nhòm viễn vọng.
Pháo bắn đạn chùm là một phát kiến chiến thuật then chốt, khi khai hỏa sẽ tung ra hàng vạn quả đạn tròn nhỏ gây ra thương vong hàng loạt. Việc áp dụng những khí tài này, kết hợp với ống nhòm viễn vọng quan sát mục tiêu từ xa và thiết kế chiến hạm bọc đồng chạy ngược gió, đã phá vỡ hoàn toàn thế trận phòng ngự truyền thống của triều đại Tây Sơn. Quân phòng thủ tại Phú Xuân phải đối mặt với một đội quân có trang bị hoàn toàn khác biệt so với những đạo quân họ từng bao vây tại Quy Nhơn.
Những ghi chép lịch sử mang tính bước ngoặt từ sĩ quan phương Tây
Một chi tiết vô cùng quan trọng được nhóm nghiên cứu trích xuất từ cả thư tịch phương Tây và ấn bản nguyên gốc chữ Hán của Đại Nam Thực Lục là sự kiện ngay sau khi kinh thành Phú Xuân thất thủ. Ghi chép của Barisy khẳng định rõ vào lúc 6 giờ chiều ngày 12 tháng 6 năm 1801, chúa Nguyễn Ánh ra lệnh cho toàn bộ quân lính của mình phải rút lên tàu và bản thân ông cũng lưu lại trên thuyền để ngủ. Phải đến ngày 15 tháng 6 năm 1801, tức ba ngày sau, lực lượng này mới chính thức được tiến vào thành.
Tài liệu chữ Hán cũng ghi chép việc chúa Nguyễn đóng thuyền giữa sông và ra lệnh cho các quân không được tự tiện lên bờ. Khoảng thời gian ba ngày án binh bất động trên thuyền này được giải thích bằng hoạt động kiểm soát, cướp bóc và thanh trừng của lực lượng hải quân độc lập đánh chiếm thành trước đó. Theo mô tả của sĩ quan Barisy, đội quân này đã thực hiện các hành vi tàn phá dinh thự to đẹp của các quan lại Tây Sơn, thu giữ toàn bộ ngân khố, cướp đoạt toàn bộ diêm tiêu và bắt giữ gia quyến của triều đình. Sĩ quan này thậm chí còn bày tỏ sự ghê sợ trước mức độ tàn phá của lực lượng đồn trú nói trên.

Tài liệu của Thứ trưởng Bộ Hải quân Anh John Barrow ghi nhận sự tồn tại của cơ sở sản xuất diêm tiêu quy mô lớn, cùng sự hiện diện của lực lượng đồn trú ngoại quốc (bao gồm lính Pháp và lính đánh thuê Ấn Độ) với quân số ước tính lên tới hơn 66.000 người.
Việc triệt tiêu toàn bộ công nghệ sản xuất vũ khí phốt pho của Tây Sơn trong ba ngày này được xem là một quyết định có tính toán kỹ lưỡng từ phía lực lượng ngoại quốc để bảo đảm sự phụ thuộc lâu dài của Đại Việt vào nguồn cung ứng vũ khí từ nước ngoài. Điều này cũng lý giải nguyên nhân vì sao hệ thống quân sự của nhà Nguyễn sau này không thể kế thừa được công nghệ hỏa khí tiên tiến mà quân đội Tây Sơn từng sở hữu, dẫn đến sự yếu thế hoàn toàn khi thực dân Pháp nổ súng tại Đà Nẵng vào năm 1858.
Dấu ấn pháp lý quốc tế từ tấm bản đồ Côn Đảo năm 1799
Nghiên cứu tiếp tục củng cố các giả thuyết thông qua việc phân tích tài liệu vật chất có giá trị pháp lý cao là tấm bản đồ Côn Đảo mang mã số btv1b59630022 được xuất bản năm 1799. Điểm đặc biệt của tài liệu này là sự xuất hiện của dấu ấn triện uy quyền của Bộ Ngoại giao Pháp, vắt ngang từ thời kỳ Cách mạng cho đến kỷ nguyên Napoleon, xác nhận tính chính thức của văn bản từ cấp chính phủ.
Trên tấm bản đồ mang tầm vóc một văn kiện quốc gia này, thực thể Trại lính Pháp được khắc họa rõ nét ngay tại Côn Đảo. Dưới góc độ pháp lý quốc tế, sự hiện diện của con dấu ngoại giao và vị trí đồn trú quân sự chứng minh rằng Hiệp ước Versailles năm 1787 đã thực sự được triển khai trên thực địa. Các chứng cứ này phản bác lại quan điểm trước đây cho rằng hiệp ước đã hoàn toàn bị vô hiệu hóa sau sự sụp đổ của hoàng gia Pháp.
Việc xác lập quyền kiểm soát tại Côn Đảo đóng vai trò như một tiền đồn pháp lý và căn cứ hậu cần để các lực lượng hàng hải phương Tây tiếp tục mở rộng sự can thiệp vào đất liền trong những thập kỷ tiếp theo. Xuyên suốt dòng chảy lịch sử, Hiệp ước Versailles năm 1787 chưa từng bị hủy bỏ bằng bất kỳ văn bản sắc lệnh hay nghị quyết ngoại giao chính thức nào từ phía chính quyền Pháp. Dựa trên chính tấm bản đồ và bản hiệp ước này, thực dân Pháp đã liên tục đưa ra các đòi hỏi về quyền lợi lãnh thổ vào năm 1817 và đỉnh điểm là cuộc chiến tranh toàn diện năm 1858.

Bản đồ Côn Đảo mang dấu triện của Bộ Ngoại giao Pháp (giai đoạn cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19) có ghi nhận vị trí đồn trú quân sự. Đây là một trong những tư liệu lịch sử quan trọng đang được các nhà nghiên cứu phân tích để làm rõ hơn bối cảnh lịch sử xoay quanh Hiệp ước Versailles năm 1787.
Tiềm năng khai quật khảo cổ và xác tín lịch sử
Những kiến giải mới mẻ từ nghiên cứu của kỹ sư Vũ Đình Thanh không chỉ mang giá trị học thuật thuần túy mà còn đặt ra những đòi hỏi cấp bách cho ngành khảo cổ học. Để chứng minh các giả thuyết quân sự này, giới chuyên môn cần tổ chức các đợt khai quật khảo cổ học quy mô lớn tại các khu vực chiến trường xưa ở thành phố Quy Nhơn và xung quanh khu vực Phú Xuân.
Việc ứng dụng công nghệ khoa học hình sự hiện đại như giám định cấu trúc ADN cùng với phân tích nhân chủng học đối với các di cốt tại những hố chôn tập thể sẽ cung cấp bản cáo trạng vật lý chính xác về thành phần quốc tịch của các đội quân tham chiến. Nếu phát hiện số lượng lớn di cốt có đặc điểm cấu trúc xương của người châu Âu hoặc Nam Á dưới các tầng địa chất, đây sẽ là bằng chứng không thể chối cãi về quy mô của đạo quân ngoại quốc đồn trú.
Bên cạnh đó, việc phân tích hóa học các tàn tích tầng địa chất tại khu vực Quy Nhơn có thể xác minh năng lực làm chủ công nghệ vũ khí hỏa tiễn và phốt pho của quân đội triều Tây Sơn. Việc tìm ra dấu vết của các loại vũ khí công nghệ cao phương Tây như đạn mảnh gang hay đạn chì tại Phú Xuân sẽ giúp minh bạch hóa bức tranh quân sự đầu thế kỷ 19, trả lại công bằng cho những nỗ lực bảo vệ đất nước của triều đại Tây Sơn.
Lực đẩy mới cho ngành kinh tế di sản và du lịch văn hóa
Dưới góc nhìn quản trị và kinh tế học, các dữ liệu lịch sử mang tính đột phá này là nguồn tài nguyên vô giá để phát triển ngành công nghiệp văn hóa và kinh tế di sản. Hiện nay, các địa phương sở hữu hệ thống di tích dày đặc như tỉnh Bình Định và tỉnh Thừa Thiên Huế đang rất cần những chất liệu lịch sử có chiều sâu để đa dạng hóa hệ sinh thái du lịch, tạo ra giá trị thặng dư bền vững cho nền kinh tế địa phương.
Việc thương mại hóa các câu chuyện lịch sử dựa trên nền tảng nghiên cứu khoa học vững chắc sẽ tạo ra chuỗi giá trị du lịch độc bản, thu hút lượng lớn du khách quốc tế và nội địa có nhu cầu du lịch khám phá văn hóa chuyên sâu. Các doanh nghiệp và quỹ đầu tư hoàn toàn có thể rót vốn phát triển các tổ hợp bảo tàng công nghệ cao, ứng dụng công nghệ thực tế ảo và thực tế tăng cường để tái hiện sống động các trận thủy chiến mang tầm vóc quốc tế ngay trên vùng biển miền Trung.
Chính quyền các cấp có thể xem xét các phương án quy hoạch xây dựng các công viên di sản chuyên đề, tổ chức các show diễn thực cảnh quy mô lớn tái hiện hành trình sản xuất vũ khí hỏa công của quân đội Tây Sơn hay những thương cảng sầm uất giao thương khoáng sản thế kỷ 19. Khai thác bài bản tài nguyên di sản không chỉ tôn vinh giá trị lịch sử, giáo dục truyền thống yêu nước mà còn thúc đẩy toàn diện ngành dịch vụ lưu trú, ẩm thực, vận tải và thương mại bán lẻ. Giải quyết thấu đáo những bí ẩn lịch sử thông qua bằng chứng khoa học chính là chìa khóa để biến tài nguyên văn hóa vô hình thành động lực tăng trưởng kinh tế thực chứng trong kỷ nguyên mới.
Khánh Mai
4 ngày trước
9 ngày trước
9 ngày trước
9 ngày trước
16 phút trước
34 phút trước
7 phút trước
35 phút trước
34 phút trước
52 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước