Gỡ rào cản cho nhân lực công nghiệp văn hóa, phát huy tài năng và sức sáng tạo
Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI. Đây là dự án luật được xây dựng mới nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Kết luận số 18 của Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV cùng các kết luận, chỉ đạo có liên quan của lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
Việc xây dựng luật đồng thời xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, nhằm giải phóng sức sáng tạo, khơi thông nguồn lực, tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới của đất nước.
Trong dự thảo Luật, chính sách phát triển nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa nhận được sự quan tâm của các đại biểu Quốc hội, với nhiều ý kiến tập trung vào cơ chế sử dụng nhân lực linh hoạt, chính sách thu hút nghệ sĩ, nghệ nhân và phạm vi áp dụng Khung năng lực nhân lực trong các ngành công nghiệp văn hóa.
Sử dụng nhân lực phù hợp với đặc thù công nghiệp văn hóa
Khoản 3 Điều 14 dự thảo Luật quy định: “Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, người thực hành, truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể, người lưu truyền, phổ biến hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống khi ký hợp đồng giảng dạy, thỉnh giảng tại cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân được trả tiền công, thù lao theo cơ chế thỏa thuận trong khung thù lao áp dụng đối với chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, người có tài năng đặc biệt theo quy định của pháp luật về thu hút, trọng dụng nhân tài”.
Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 15 quy định: "Việc thu hút, trọng dụng nhân lực công nghiệp văn hóa chất lượng cao, nhân tài công nghiệp văn hóa được thực hiện như việc thu hút nguồn nhân lực công nghiệp số chất lượng cao, thu hút, trọng dụng nhân tài công nghệ số theo quy định của pháp luật về công nghiệp công nghệ số".

Đại biểu Vương Quốc Thắng, Đoàn ĐBQH thành phố Đà Nẵng phát biểu
Góp ý về các quy định này, đại biểu Vương Quốc Thắng, Đoàn ĐBQH thành phố Đà Nẵng nhận định, dự thảo Luật đã xác định phạm vi nhân lực công nghiệp văn hóa tương đối rộng, đồng thời có quy định về hợp đồng đối với một số hoạt động giảng dạy và cơ chế thu hút nhân lực chất lượng cao.
Tuy nhiên, theo đại biểu, hoạt động công nghiệp văn hóa có đặc thù thường được tổ chức theo từng dự án, nhiệm vụ, tác phẩm, chương trình, sự kiện hoặc sản phẩm. Trong khi đó, dự thảo Luật chưa quy định rõ cơ chế chung để cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được giao nhiệm vụ phát triển công nghiệp văn hóa có thể thuê, mời hoặc ký hợp đồng chuyên môn với nghệ sĩ, chuyên gia, nhà sản xuất và nhân lực liên quan theo từng dự án, nhiệm vụ hoặc sản phẩm.
Từ thực tế này, đại biểu đề nghị bổ sung cơ chế sử dụng linh hoạt các hình thức hợp đồng, bảo đảm phù hợp với đặc thù hoạt động, nguồn kinh phí và quy định của pháp luật có liên quan. Việc sử dụng nhân lực không nhất thiết phải gắn với vị trí việc làm thường xuyên hoặc chỉ tiêu biên chế.
Mở rộng cơ hội truyền dạy di sản, bảo đảm quyền lợi của nghệ nhân và cộng đồng
Quan tâm đến chính sách thu hút nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia và nhà giáo trong phát triển nhân lực công nghiệp văn hóa tại Điều 14 dự thảo Luật, đại biểu Đoàn Thị Lê An, Đoàn ĐBQH tỉnh Cao Bằng đánh giá đây là một trong những chính sách có ý nghĩa nhân văn và giá trị thực tiễn nổi bật.
Đại biểu đồng tình với chủ trương công nhận năng lực chuyên môn của nghệ sĩ, nghệ nhân trong hoạt động giảng dạy, truyền nghề, đồng thời xây dựng cơ chế trả thù lao tương xứng cho những người trực tiếp gìn giữ, trao truyền các giá trị văn hóa.
Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả, đại biểu Đoàn Thị Lê An đề nghị tiếp tục hoàn thiện ba nội dung.
Thứ nhất, đối với khoản 1 Điều 14, cần phân biệt rõ năng lực chuyên môn thực hành với điều kiện tham gia giảng dạy.

Đại biểu Đoàn Thị Lê An, Đoàn ĐBQH tỉnh Cao Bằng nêu ý kiến
Theo đại biểu, danh hiệu nghệ sĩ, nghệ nhân là sự ghi nhận tài năng và đóng góp trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Trong khi đó, hoạt động giảng dạy còn đòi hỏi những yêu cầu nhất định về phương pháp truyền đạt và chất lượng giáo dục.
Vì vậy, đại biểu đề nghị công nhận năng lực chuyên môn thực hành, truyền dạy đối với những nội dung phù hợp, đồng thời quy định rõ hình thức tham gia giảng dạy nhằm bảo đảm chất lượng giáo dục.
Thứ hai, cần mở rộng cơ hội tham gia truyền dạy đối với những người nắm giữ tri thức văn hóa truyền thống nhưng chưa được phong tặng danh hiệu nghệ nhân.
Từ thực tiễn Cao Bằng và các tỉnh miền núi phía Bắc, đại biểu cho biết có nhiều người am hiểu sâu sắc tiếng nói, chữ viết, dân ca, dân vũ, nghề thủ công, phong tục và tri thức bản địa nhưng chưa được công nhận danh hiệu. Nếu chính sách chủ yếu dựa vào danh hiệu được phong tặng, những người đang trực tiếp gìn giữ và truyền dạy di sản văn hóa có thể bị bỏ sót.
“Tôi đề nghị bổ sung cơ chế công nhận năng lực thực hành, truyền dạy trên cơ sở năng lực thực tế và sự ghi nhận của cộng đồng, tạo điều kiện để họ tham gia hoạt động giáo dục, truyền nghề phù hợp”, đại biểu Đoàn Thị Lê An nêu ý kiến.
Thứ ba, đối với khoản 3 Điều 14, cần làm rõ cơ chế thù lao và mở rộng chính sách hỗ trợ hoạt động truyền dạy tại cộng đồng, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và biên giới.
Đại biểu cho rằng, việc truyền dạy văn hóa truyền thống không chỉ diễn ra tại các cơ sở giáo dục mà còn được thực hiện trong cộng đồng, làng nghề, hợp tác xã và các mô hình du lịch cộng đồng. Do đó, chính sách cần tính đến các không gian truyền dạy đa dạng này.
Đại biểu đề nghị bổ sung chính sách ưu tiên hỗ trợ nghệ nhân, người thực hành di sản văn hóa phi vật thể tham gia truyền nghề, đào tạo người kế cận và phát triển sản phẩm công nghiệp văn hóa. Đặc biệt, cần quan tâm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nghệ nhân và cộng đồng khi các giá trị văn hóa truyền thống được khai thác, thương mại hóa.
“Đối với các địa phương miền núi, biên giới như Cao Bằng, tôi mong muốn Luật không chỉ tạo cơ hội cho doanh nghiệp khai thác tiềm năng văn hóa, mà còn mở ra cơ hội để nghệ nhân, phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số và cộng đồng địa phương thực sự trở thành chủ thể của quá trình phát triển, được tham gia sáng tạo, được bảo vệ quyền lợi và được hưởng thành quả từ những giá trị văn hóa mà họ đã gìn giữ qua nhiều thế hệ”, đại biểu đề nghị.
Khung năng lực cần là công cụ tham chiếu, không tạo thêm điều kiện hành chính
Một nội dung khác được các đại biểu quan tâm là quy định về Khung năng lực nhân lực trong các ngành công nghiệp văn hóa tại Điều 13 dự thảo Luật.
Đại biểu Nguyễn Hải Long, Đoàn ĐBQH thành phố Đà Nẵng, nhất trí với nhận định rằng công tác đào tạo nhân lực văn hóa hiện chưa theo kịp nhu cầu thị trường. Vì vậy, việc xây dựng một chuẩn chung để các cơ sở đào tạo làm căn cứ xây dựng chương trình là cần thiết.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng cần xác định đúng vai trò và phạm vi áp dụng của khung năng lực. Theo đó, khung năng lực vốn là công cụ quản trị nhân sự của người sử dụng lao động, trong khi đặc thù nhân lực của các ngành công nghiệp văn hóa có nhiều điểm khác biệt.
“Với công chức, viên chức, Nhà nước là người sử dụng lao động nên xác định yêu cầu năng lực theo vị trí việc làm là hợp lý. Trong các ngành công nghiệp văn hóa thì khác. Phần lớn người làm nghề là nghệ nhân, ca sĩ, người viết, người thiết kế, hộ kinh doanh và người làm nghề tự do. Họ không có vị trí việc làm, không thuộc biên chế của cơ quan nào. Năng lực của họ do khán giả và thị trường đánh giá qua tác phẩm”, đại biểu phân tích.

Đại biểu Nguyễn Hải Long, Đoàn ĐBQH thành phố Đà Nẵng phát biểu
Theo đại biểu Nguyễn Hải Long, khoản 14 Điều 2 dự thảo Luật xác định nhân lực công nghiệp văn hóa bao gồm cả những người tham gia gián tiếp, với phạm vi rộng, trải trên mười ngành. Trong khi đó, khoản 1 Điều 13 quy định khung năng lực xác định yêu cầu về năng lực đối với nhân lực trong từng ngành, còn khoản 2 chỉ đề cập việc sử dụng khung trong đào tạo. Hai khoản này chưa thống nhất về phạm vi áp dụng.
Bên cạnh đó, dự thảo chưa quy định rõ chủ thể thực hiện đánh giá năng lực và giá trị pháp lý của kết quả đánh giá.
Đại biểu lưu ý, nếu không giới hạn rõ phạm vi, khung năng lực có thể trở thành điều kiện để hưởng chính sách. Điều này càng cần được cân nhắc khi khoản 15 Điều 2 mô tả nhân lực chất lượng cao bằng những từ ngữ định tính, chưa có tiêu chí cụ thể, trong khi khoản 3 Điều 15 và quy định miễn thuế thu nhập cá nhân trong 5 năm tại khoản 4 Điều 37 đều gắn với nhóm đối tượng này.
Một điểm chưa thống nhất khác được đại biểu chỉ ra là khoản 1 Điều 14 công nhận Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, Nghệ nhân nhân dân đáp ứng yêu cầu về trình độ đào tạo khi giảng dạy. Quy định này cho thấy dự thảo đã ghi nhận tài năng không chỉ được đo bằng bằng cấp. Tuy nhiên, Điều 13 lại gắn khung năng lực với Khung trình độ quốc gia Việt Nam.
Từ những vấn đề trên, đại biểu Nguyễn Hải Long đề nghị quy định rõ trong Luật rằng Khung năng lực là khung tham chiếu phục vụ đào tạo, không phải điều kiện hành nghề và cũng không phải điều kiện hưởng chính sách hỗ trợ, ưu đãi.
Theo đó, cá nhân không bắt buộc phải được đánh giá hoặc chứng nhận theo khung năng lực mới được sáng tạo, biểu diễn, kinh doanh hoặc tiếp cận chính sách, trừ trường hợp luật chuyên ngành có quy định riêng. Đồng thời, cần rà soát khoản 1 và khoản 2 Điều 13 để bảo đảm thống nhất về phạm vi áp dụng.
“Làm được như vậy thì cơ sở đào tạo có chuẩn chung để xây dựng chương trình, mà người đang làm nghề không phải chịu thêm một thủ tục mới. Nhà nước phải tạo điều kiện để tài năng văn hóa phát triển, chứ không phải tạo thêm những điều kiện hành chính để tài năng được công nhận”, đại biểu Nguyễn Hải Long nhấn mạnh.
TRƯƠNG HUYỀN
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
2 ngày trước
45 phút trước
4 giờ trước
6 giờ trước
4 phút trước
25 phút trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước