🔍
Chuyên mục: Giáo dục

Giáo dục Việt Nam: Đột phá và kỳ vọng

1 giờ trước
Năm 2025 đánh dấu giai đoạn bản lề với nhiều đột phá về thể chế, chính sách và chất lượng giáo dục, khẳng định mạnh mẽ cam kết của Nhà nước Việt Nam trong bảo đảm quyền học tập của mọi người dân.

Triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 và các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc (LHQ), Việt Nam đã kiên trì quan điểm lấy con người làm trung tâm phát triển, nhà trường là nền tảng, giáo viên là động lực, thực hiện đổi mới mạnh mẽ tư duy từ trang bị kiến thức sang trang bị năng lực, phẩm chất toàn diện cho học sinh.

Bảo đảm quyền được tiếp cận giáo dục

Bảo đảm quyền được tiếp cận giáo dục công bằng và toàn diện được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận và tiếp tục được cụ thể hóa bằng hệ thống chính sách, pháp luật ngày càng đồng bộ. Năm 2025, Việt Nam duy trì vững chắc kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, đồng thời nâng cao chất lượng phổ cập, nhất là tại các vùng còn nhiều khó khăn.

Với chính sách miễn học phí cho học sinh trung học cơ sở, trẻ em vùng dân tộc thiểu số có nhiều cơ hội tiếp cận học tập ở các môi trường khác nhau. Tỉ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi ở cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Chính sách đi vào cuộc sống, hỗ trợ trực tiếp hàng triệu gia đình, đặc biệt là các gia đình ở nông thôn và công nhân tại các khu công nghiệp, bảo đảm mọi trẻ em đều có thể hoàn thành chương trình giáo dục cơ bản mà không bị cản trở bởi rào cản tài chính.

Việc thực hiện chính sách miễn học phí đối với học sinh trung học cơ sở trên phạm vi toàn quốc là một bước tiến quan trọng trong bảo đảm quyền được học tập bình đẳng, tác động trực tiếp giảm gánh nặng tài chính cho hàng triệu gia đình, nhất là ở khu vực nông thôn, miền núi, công nhân lao động tại các khu công nghiệp, góp phần nâng cao tỉ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi và hạn chế tình trạng bỏ học vì hoàn cảnh kinh tế.

Đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho con người và tương lai đất nước. Những kết quả nổi bật năm 2025 là minh chứng rõ nét cho nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền được giáo dục cho mọi người dân. Với nền tảng thể chế ngày càng hoàn thiện và sự đồng thuận xã hội, giáo dục Việt Nam năm 2026 tiếp tục hướng tới phát triển toàn diện, công bằng và bền vững.

Giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm và là một trong những trụ cột của công bằng xã hội. Đây cũng là trọng tâm ưu tiên trong chính sách phát triển giáo dục. Bảo đảm quyền được giáo dục cho đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, mà còn tạo nền tảng vững chắc cho ổn định chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Các chính sách hỗ trợ học sinh bán trú, nội trú; hỗ trợ tiền ăn trưa, miễn giảm học phí cho trẻ em mẫu giáo vùng khó khăn theo Nghị định số 105/2020/NĐ-CP tiếp tục phát huy hiệu quả thiết thực. Đề án tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non và học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giúp trẻ sớm hình thành năng lực ngôn ngữ, tự tin hòa nhập môi trường học tập.

Xa hơn nữa, giáo dục và đào tạo cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là "đòn bẩy" quan trọng nhất để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền. Việc bảo đảm quyền được giáo dục cho người dân vùng dân tộc thiếu số và miền núi không chỉ dừng lại ở việc xóa mù chữ, mà là mục tiêu nâng cao chất lượng nhân lực toàn diện, từ những năm đầu đời đến bậc học cao nhất.

Giáo dục mầm non vùng dân tộc thiểu số là giai đoạn "vàng" để trẻ em chuẩn bị tâm thế vào lớp 1. Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non và học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số được triển khai qua đó trẻ em được học tiếng Việt thông qua các hoạt động vui chơi, đồng thời giáo viên được khuyến khích sử dụng tiếng dân tộc để giải thích, giúp trẻ làm quen ngôn ngữ khi đến trường.

Từ năm 2020 đến nay, nhà nước đã triển khai chính sách hỗ trợ tiền ăn trưa và miễn giảm học phí cho trẻ em mẫu giáo vùng khó khăn theo thực hiện Nghị định 105/2020/NĐ-CP. Mức hỗ trợ này đã được điều chỉnh tăng lên theo chỉ số giá tiêu dùng, đảm bảo mỗi bữa ăn bán trú đủ chất dinh dưỡng, góp phần giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em miền núi.

Để có giáo viên tại các điểm bản xa xôi, các chính sách về phụ cấp thu hút, phụ cấp ưu đãi nghề và hỗ trợ nhà công vụ đã được thực hiện quyết liệt, đảm bảo 100% các điểm trường lẻ đều có giáo viên ổn định công tác. Hệ thống trường phổ thông nội trú và bán trú là "xương sống" của giáo dục vùng cao.

Năm 2025, mô hình trường bán trú kiểu mới được nhân rộng, nơi học sinh không chỉ học văn hóa mà còn được đào tạo kỹ năng sống, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và hướng nghiệp sớm. Nhà nước hỗ trợ 100% tiền ăn, ở và sách vở cho học sinh nội trú. Ghi nhận sự hoàn thiện trong khung pháp lý về giáo dục cho người khuyết tật. Các trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập được thành lập tại tất cả các tỉnh thành, đảm bảo trẻ em có nhu cầu đặc biệt được học tập trong môi trường thân thiện, có sự hỗ trợ của giáo viên chuyên biệt và trang thiết bị phù hợp.

Cùng với đó, ngành giáo dục tiếp tục các dự án kiên cố hóa trường lớp tại các địa bàn khó khăn, các trường học dọc theo biên giới. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú được đầu tư về cơ sở vật chất và chế độ dinh dưỡng. Việc ứng dụng giáo dục số đã giúp học sinh vùng sâu, vùng xa tiếp cận với những bài giảng chất lượng cao của các giáo viên giỏi ở thành phố thông qua mô hình lớp học trực tuyến.

Đột phá về thể chế, chất lượng và chuyển đổi số năm 2025 là một trong những dấu ấn chuyển biến căn bản về chất lượng giáo dục quốc dân. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 được triển khai đầy đủ ở tất cả các cấp học, với kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông lần đầu tiên tổ chức theo chương trình mới. Phương án thi theo hướng giảm áp lực, tăng quyền lựa chọn của học sinh thể hiện rõ định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học.

Nguồn cán bộ và đào tạo nhân lực chất lượng cao tại chỗ là người dân tộc để quay về phục vụ quê hương được chú trọng triển khai. Chính sách cử tuyển được đổi mới theo hướng "đào tạo theo địa chỉ", gắn chặt với nhu cầu tuyển dụng của từng địa phương. Các trường dự bị đại học dân tộc đóng vai trò là "cầu nối", giúp học sinh vùng cao bổ sung kiến thức để tự tin bước vào giảng đường đại học chính quy. Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng những năm qua đều thể hiện chính sách ưu tiên đối với thí sinh Khu vực 1 (vùng đặc biệt khó khăn, dân tộc thiểu số) trong đó đặc biệt lưu ý đến các ngành nghề mũi nhọn như y khoa, sư phạm, kỹ thuật công nghệ.

Trong giáo dục đại học, đào tạo nhân lực chất lượng cao gắn với các ngành khoa học - công nghệ mũi nhọn được đẩy mạnh. Chuyển đổi số trở thành động lực then chốt, với việc triển khai học bạ điện tử, kho tài nguyên giáo dục mở và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lí, giảng dạy, học tập.

Năm 2026: Ổn định và chuẩn hóa

Từ những thành quả của năm 2025, thời gian tới giáo dục - đào tạo tập trung vào việc ổn định và chuẩn hóa.

Các trường cao đẳng sư phạm và các đại học địa phương thực hiện chủ trương tinh gọn heo đúng tinh thần của Nghị quyết 71. Công tác tổ chức và quản trị cơ sở giáo dục đào tạo được chuẩn hóa. Đẩy mạnh tự chủ đại học không phụ thuộc vào mức độ tài chính mở rộng không gian học thuật. Các trường phải công khai minh bạch tỉ lệ sinh viên có việc làm, chất lượng đào tạo để người dân lựa chọn. Từng bước giải quyết bài toán giáo viên giữa các tỉnh thành và đề xuất khung lương mới cho giáo viên theo vị trí việc làm, đảm bảo thu nhập của nhà giáo đủ để họ yên tâm cống hiến, đặc biệt là giáo viên mầm non và giáo viên các môn nghệ thuật, công nghệ trong chương trình mới.

Phương hướng, giải pháp bảo đảm quyền giáo dục năm 2026 hướng tới tập trung ổn định hệ thống, chuẩn hóa quản trị và nâng cao chất lượng bền vững. Tự chủ đại học được tiếp tục thúc đẩy gắn với trách nhiệm giải trình; công tác sắp xếp mạng lưới cơ sở đào tạo được triển khai theo hướng tinh gọn, hiệu quả.

Năm học 2026 - 2027, cả nước sẽ thực hiện 01 bộ sách giáo khoa (SGK) thống nhất thay vì 3 bộ như hiện nay. Điều mà chuyên gia và các nhà giáo mong muốn là cần có tư duy mới trong triển khai 1 bộ SGK, tránh tình trạng dạy học, thi cử bám theo một tài liệu duy nhất là SGK.

Ngành giáo dục chú trọng giải quyết bài toán đội ngũ giáo viên, đặc biệt tại vùng khó khăn; nghiên cứu đề xuất chính sách tiền lương theo vị trí việc làm nhằm bảo đảm đời sống và động lực cống hiến của nhà giáo. Đồng thời, tăng cường thu hút sinh viên quốc tế, mở rộng hợp tác giáo dục, góp phần nâng cao vị thế giáo dục Việt Nam trên trường quốc tế. Việt Nam đặt mục tiêu thu hút sinh viên quốc tế đến học tập tại các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh tại Việt Nam.

Đồng thời, khuyến khích các đại học trong nước mở phân hiệu tại các nước trong khu vực, khẳng định vị thế giáo dục Việt Nam trên trường quốc tế. Ngành giáo dục tiếp tục triển khai đồng bộ và triệt để quy trình số hóa toàn bộ quản lí giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Mỗi học sinh vùng cao sẽ có hồ sơ điện tử giúp theo dõi sát sao quá trình phát triển và hỗ trợ kịp thời. Bên cạnh đó, việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng mạng Internet và thiết bị học tập thông minh sẽ được ưu tiên hàng đầu, để học sinh ở các vùng sâu, vùng xa cũng có thể tiếp cận kho tàng tri thức bình đẳng như học sinh tại thành phố, trung tâm lớn.

Giáo dục bước vào năm 2026 với thế và lực mới với hàng loạt chính sách lớn mang tính đột phá có hiệu lực thi hành ngay từ đầu năm. Các chính sách mới của ngành giáo dục được thể chế hóa trong nhiều Luật, Nghị quyết quan trọng như Luật Nhà giáo, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để đột phá phát triển giáo dục và đào tạo… Cụ thể, từ ngày 01/01/2026, đồng loạt 04 luật và nghị quyết về chính sách đặc thù, vượt trội về giáo dục - đào tạo có hiệu lực, mang đến những kì vọng và thay đổi “chưa từng có” cho giáo dục.

Có thể khẳng định rằng, ngành Giáo dục đã và đang nỗ lực hiện thực hóa quyền học tập của mọi người dân, giáo dục thành động lực then chốt để đưa đất nước bước vào kỉ nguyên vươn mình của dân tộc. Trong tiến trình đó, quyền được giáo dục được xác định là một trong những quyền con người cơ bản, vừa mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, vừa là nền tảng cho phát triển bền vững.

Phương hướng, giải pháp bảo đảm quyền giáo dục năm 2026 hướng tới tập trung ổn định hệ thống, chuẩn hóa quản trị và nâng cao chất lượng bền vững. Tự chủ đại học được tiếp tục thúc đẩy gắn với trách nhiệm giải trình; công tác sắp xếp mạng lưới cơ sở đào tạo được triển khai theo hướng tinh gọn, hiệu quả.

Vụ Giáo dục Đại học - Bộ Giáo dục và Đào tạo

TIN LIÊN QUAN






















Home Icon VỀ TRANG CHỦ