🔍
Chuyên mục: Pháp luật

Giảm hình phạt với người phạm tội không vụ lợi: Cần có tiêu chí chặt chẽ

3 ngày trước
Cần có tiêu chí chặt chẽ, rõ ràng để làm căn cứ giảm hình phạt với người phạm tội không vụ lợi; đồng thời nâng cao năng lực áp dụng pháp luật để tránh bị lợi dụng...
00:00
00:00

Số trước, Pháp Luật TP.HCM có bài ghi nhận quan điểm của các chuyên gia về việc Trung ương ban hành Nghị quyết 04-NQ/TW, trong đó có nêu định hướng giảm trách nhiệm hình sự (TNHS), hình phạt đối với người phạm tội không có động cơ vụ lợi.

Số này, chúng tôi tiếp tục ghi nhận các ý kiến về nội dung trên.

Hội nghị tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nhiệm kỳ XIII của Đảng. Ảnh minh họa/THUẬN VĂN

ThS NGUYỄN THỊ THÙY DUNG, Giảng viên Khoa Luật Hình sự, Trường Đại học Luật TP.HCM

ThS Nguyễn Thị Thùy Dung

Tránh hình sự hóa nhưng không buông lỏng

Một trong những nguyên tắc nền tảng của luật hình sự là cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt.

Theo đó, việc quyết định hình phạt không thể chỉ dựa vào hành vi phạm tội mà còn phải xem xét đầy đủ động cơ, mục đích và nhân thân của người thực hiện hành vi.

Trên thực tế, có thể nhận diện tương đối rõ hai nhóm người phạm tội: Một nhóm hướng tới việc thu lợi vật chất hoặc lợi ích cá nhân cụ thể và một nhóm không nhằm mục đích vụ lợi mà chủ yếu xuất phát từ hạn chế nhận thức, áp lực hoàn cảnh hoặc những động cơ mang tính nhất thời.

Sự phân biệt này không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn mang giá trị thực tiễn sâu sắc. Người phạm tội không vì vụ lợi thường có mức độ lỗi thấp, ít tính toán, nguy cơ tái phạm không cao, nên việc giảm nhẹ TNHS là phù hợp với nguyên tắc công bằng và cá thể hóa hình phạt.

Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy hình phạt tù vẫn được áp dụng khá phổ biến, kể cả trong những trường hợp có thể xử lý bằng biện pháp ít nghiêm khắc hơn, đặt ra yêu cầu xem xét lại tính hợp lý và cần thiết của việc áp dụng hình phạt này.

Trên bình diện quốc tế, nhiều quốc gia đang chuyển từ mô hình lấy giam giữ làm trung tâm sang hạn chế giam giữ, mở rộng các biện pháp thay thế như cải tạo không giam giữ, án treo, lao động phục vụ cộng đồng, trên cơ sở không phải mọi vi phạm đều cần tước tự do.

Tại Việt Nam, tinh thần này đã được thể hiện trong chính sách hình sự, nhưng việc áp dụng thực tế còn thận trọng. Do đó, đề xuất giảm hình phạt tù đối với người phạm tội không vì vụ lợi được đánh giá là phù hợp xu hướng chung, đồng thời đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả quản trị xã hội bằng pháp luật.

Các biện pháp không tước tự do, nếu được thiết kế phù hợp, vẫn bảo đảm răn đe, đồng thời tạo điều kiện để người phạm tội sửa chữa sai lầm trong môi trường xã hội.

Trong lĩnh vực tội phạm kinh tế, chức vụ, việc mở rộng áp dụng phạt tiền và các biện pháp khắc phục hậu quả thay vì ưu tiên tù giam là hướng đi đáng cân nhắc, bởi thiệt hại chủ yếu về tài sản và có thể xử lý hiệu quả bằng công cụ kinh tế. Tuy nhiên, giảm nhẹ TNHS không đồng nghĩa làm suy giảm tính răn đe.

Vấn đề then chốt là xác định ranh giới giữa “rủi ro vì lợi ích chung” và hành vi vi phạm có yếu tố vụ lợi. Thực tế cho thấy không ít sai phạm được lý giải do hoàn cảnh khách quan nhưng vẫn tiềm ẩn động cơ trục lợi, gây khó khăn trong nhận diện.

Để phân định, cần dựa trên các tiêu chí như mục đích, lợi ích hướng tới, mức độ tuân thủ quy định, khả năng dự liệu hậu quả, tính minh bạch trong quá trình thực hiện và thái độ của chủ thể sau vi phạm. Hành vi vì lợi ích chung thường không gắn với lợi ích cá nhân, tuân thủ quy trình và minh bạch, trong khi hành vi trục lợi thường có dấu hiệu hưởng lợi, né tránh quy định hoặc che giấu.

Tuy nhiên, không có vụ lợi không đồng nghĩa miễn trách nhiệm pháp lý. Việc xử lý cần căn cứ chứng cứ khách quan, đánh giá toàn diện bối cảnh vụ việc, đồng thời xây dựng tiêu chí rõ ràng và nâng cao năng lực áp dụng để tránh bị lợi dụng, bảo đảm chính sách được thực hiện đúng mục tiêu, vừa nhân đạo vừa nghiêm minh.

Thạc sĩ - Luật sư ĐẶNG THỊ THÚY HUYỀN, Đoàn Luật sư TP.HCM

Thạc sĩ - Luật sư Đặng Thị Thùy Huyền

Cần tiêu chí chặt chẽ để tránh bị lợi dụng

Việc ghi nhận yếu tố “không có động cơ vụ lợi” làm căn cứ giảm nhẹ, thậm chí loại trừ TNHS trong những điều kiện chặt chẽ là hợp lý, góp phần bảo đảm công bằng.

Tuy nhiên, đây là yếu tố khó xác định, không thể chỉ hiểu là không nhận tiền hay không có lợi ích trực tiếp, mà cần tiếp cận toàn diện, bao gồm các tiêu chí tiêu biểu như: Không tồn tại lợi ích vật chất hoặc phi vật chất mà người thực hiện hành vi hoặc người có liên quan được hưởng; không có dấu hiệu câu kết lợi ích nhóm. Sau khi xảy ra hậu quả, người thực hiện thể hiện thái độ ăn năn như chủ động báo cáo, tự nguyện khắc phục hậu quả, hợp tác với các cơ quan chức năng.

Theo đó, việc chứng minh phải dựa trên tổng hợp nhiều nguồn như tài chính, gồm dữ liệu về tài khoản ngân hàng, dòng tiền, tài sản tăng thêm, giao dịch liên quan đến người thân… nhằm loại trừ khả năng tồn tại lợi ích thu lợi bất chính.

Tiếp theo, cần xem xét về quá trình ra quyết định như hồ sơ công việc, biên bản hợp, ý kiến tập thể, văn bản chỉ đạo, các tài liệu chuyên môn… để làm rõ bối cảnh, mục tiêu và cơ sở của hành vi.

Ngoài ra, dữ liệu điện tử (email công vụ, tin nhắn, nhật ký hệ thống) có giá trị đặc biệt trong việc phản ánh ý chí và quá trình trao đổi nội bộ, qua đó giúp nhận diện liệu có sự dàn xếp, thông đồng hay không. Lời khai của những người liên quan (đồng nghiệp, cấp trên, cấp dưới, đối tác…) cũng là nguồn thông tin quan trọng, nhưng cần được kiểm chứng chéo để tránh tính chủ quan.

Bên cạnh đó, kết luận thanh tra, kiểm toán, giám định chuyên môn giúp xác định mức độ thiệt hại, tính cần thiết hoặc hợp lý của quyết định trong bối cảnh cụ thể. Cuối cùng, hành vi sau khi sự việc xảy ra như việc tự nguyện khắc phục hậu quả, nộp lại tài sản, chủ động báo cáo sai sót cũng là một dạng “chứng cứ hành vi” phản ánh động cơ ban đầu. Việc đánh giá phải đặt trong tổng thể, tránh suy đoán đơn giản hoặc chỉ dựa vào lời giải thích một chiều.

Để bảo đảm tính minh bạch và thống nhất, cần bổ sung định nghĩa và hệ tiêu chí cụ thể về “vụ lợi/không vụ lợi”. Trong đó, “vụ lợi” có thể được xác định là nhằm thu lợi ích vật chất hoặc phi vật chất, trực tiếp, gián tiếp hoặc trong tương lai; còn “không vụ lợi” nên được thiết kế như tập hợp các điều kiện loại trừ, gắn với tiêu chí rõ ràng và cơ chế hướng dẫn áp dụng.

Luật sư Mai Thanh Bình

THẢO HIỀN

TIN LIÊN QUAN




















Home Icon VỀ TRANG CHỦ