🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Giấc hương quan trong thơ Phạm Phú Thứ

4 giờ trước
'Thiên ngoại, cô cao kiến nhất phong' (Ngoài trời, hiện lên cao vút một chóp núi), đó là lời nhận xét của Nguyễn Trọng Hợp về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Trúc Đường Phạm Phú Thứ (1821-1882), một trong những anh tài của vùng đất Gò Nổi (Đà Nẵng).

Lăng mộ cụ Phạm Phú Thứ. Ảnh: N.T.T.T

Cụ là một tấm gương về tinh thần khẳng khái, ý chí ham học hỏi không ngừng cùng ước nguyện đổi mới đất nước. Ngoài ra, Trúc Đường Phạm Phú Thứ còn là một nhà tư tưởng, nhà khoa học, nhà nghiên cứu sử học và văn học, một nhà thơ lớn.

Nhắc đến các trước tác của ông, không thể không nhắc đến Giá Viên toàn tập, đồ sộ về khối lượng tác phẩm (gồm 27 quyển), đa dạng về đề tài và phong phú về thể loại. Trong đó đáng nhắc đến là mảng thơ ca viết về nỗi nhớ quê hương xứ sở của Phạm Phú Thứ thể hiện tập trung ở quyển 4 (Đông hành thi lục) với 90 bài thơ.

“Quan san giấc mộng quê xa vời” (*)

Nhà bác học người Pháp Louis Pasteur từng nói: “Học vấn không có quê hương nhưng người học vấn phải có Tổ quốc”. Thật vậy, những người càng học rộng tài cao như Phạm Phú Thứ thì quê hương luôn là điểm tựa và cũng là niềm tin để hướng về.

Ở tuổi đôi mươi, bước lên đỉnh cao khoa cử với học vị Tiến sĩ, rồi nhận chức đi làm quan ở nơi xa, nhưng tấm lòng ông vẫn đau đáu nỗi lòng quê hương xứ sở. Đêm Trung thu trăng sáng nơi đất khách quê người, đứng trên lầu cao lòng người khách ly hương “vọng viễn sầu: “Hương đinh ca phong hoàn tấn tẩn/ Lĩnh vân phù hải đạm du du/ Thố hào dục ký Nam lai nhạn/ Tả khước li nhân vọng viễn sầu”, dịch thơ: “Thuyền hương trong gió ca vi vút/ Mây trôi núi biển lặng rầu rầu/ Muốn gửi bút lông theo chim nhạn/ Tả nỗi ly hương vọng viễn sầu” (bài 60, quyển 4).

Chặng đường làm quan quá đỗi thăng trầm, công việc bề bộn với những chuyến công cán dài ngày nhưng quê hương vẫn canh cánh bên lòng người đi xa ở bất cứ thời điểm nào: một ngày Tết Đoan Ngọ, một đêm rằm tháng Bảy hay một chiều tà đầy mưa... Quê hương luôn thường trực trong giấc ngủ, rối bời trong tâm can suốt đêm trường cho ta hình dung được nỗi cô đơn và niềm khát khao tình thân của Trúc Đường Phạm Phú Thứ. Tâm trạng ấy được ghi lại trong nhiều sáng tác của ông, từ thể loại thơ thất ngôn đến ngũ ngôn.

Thông qua những vần thơ viết về quê hương, Trúc Đường còn gửi gắm tấc lòng đến đấng sinh thành, nỗi day dứt vì chưa làm tròn chữ hiếu với cha mẹ: “Vạn cổ ân thâm đồng võng cực/ Lục Nga đề huyết nhẫn chung biên”, dịch thơ: “Vạn cổ ơn sâu không bờ bến/ Lục Nga lệ máu đẫm toàn thiên” (bài 12, quyển 3). Ngày giỗ đầu cha, Trúc Đường đang bị phạt cắt cỏ ở Thừa Nông, trong tay không có cả nén hương để tưởng niệm, chỉ có đôi vần thơ đẫm lệ.

Sau một năm chịu án phạt, Phạm Phú Thứ được phục chức và tiếp sau đó là những ngày công cán phương xa. Một ngày nơi đất khách, thời gian trôi tựa ngàn ngày và Phạm Phú Thứ luôn mong ngóng thời gian trôi nhanh để có dịp hồi cố hương: “Yếm nhiệt tự thành lâu thượng vọng/ Giang Nam hà xứ kịch tư thân” (Chán nóng lên lầu cao đứng ngóng/ Giang Nam tha thiết nhớ song thân) (bài 47, quyển 4). Sự đời là vậy, học hành đỗ đạt cao phải vâng lệnh vua nhận chức ở nơi xa, làm tròn chữ trung thì phải khuyết lòng hiếu đễ. Đọc những dòng thơ trào lệ, ta hiểu thêm về tấm lòng của một người con hiếu thảo với cha mẹ, quê nhà.

“Cố quốc Vân sơn đa khí sắc” (*)

Những ngày sống xa quê dài thăm thẳm và Phạm Phú Thứ bấm đốt tính từng ngày, để về thăm nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Nhìn từ cửa thành Điện Hải, nhà thơ òa vỡ bao niềm vui tái ngộ, mừng rỡ khi nhìn thấy sự đổi thay của làng quê vào xuân sau mùa lũ lụt: “Ba đào lợi thiệp đông dương lộ/ Vũ lạo sơ thu Điện Hải thành/ Cố quốc Vân sơn đa khí sắc/ Hùng quan thức mục chính xuân tình” (Vượt sóng biển Đông thuyền thẳng tiến/ Vừa dứt lụt thu Điện Hải thành/ Quê cũ Hải Vân bao màu sắc/ Hùng quan dụi mắt cảnh tươi xanh) (bài 88, quyển 4).

Phép liệt kê địa danh đất Quảng làm cho ý thơ vang lên niềm tự hào trước vẻ đẹp muôn màu của quê hương. Hòa mình với cuộc sống nơi thôn dã, nhà thơ như nghe được mùi mật mía thơm trong gió, tiếng tằm ăn dâu rào rạt, tiếng thoi đưa ai dệt lụa bên sông, cảm nhận được “Mặt trời lặn Sơn Trà mưa bụi/ Mặt trăng lên Sơn Trà sáng mờ” (bài 22, quyển 4). Có yêu và gắn bó tha thiết với xứ sở, cụ Trúc Đường mới thốt lên những vần thơ dào dạt chất trữ tình, cuồn cuộn như nước triều đông.

Ấy vậy, cảnh thanh bình của quê nhà bị tan hoang bởi tiếng súng của giặc ngoại xâm khiến lòng người đau xé. Thiên nhiên và con người quê hương Trúc Đường bị cuốn trong cơn bụi đỏ của loạn lạc chiến tranh. Trên đường về cố hương, Trúc Đường chứng kiến bao nỗi tang thương, dẫu biết “Nam nhi không đánh giặc/ Lấy gì báo quân vương” nhưng bản thân còn đang thực hiện nhiệm vụ lại đau ốm triền miên nên chỉ biết ước mong: “Liệt phong hồi thủ Trà Sơn báo/ Thùy vãn thiên hà vị tẩy binh” (Lửa hiệu đồn Trà còn âm ỉ/ Ai kéo sông Ngân rửa giáp binh) (bài 21, quyển 4). Phạm Phú Thứ gửi gắm niềm mong mỏi chiến tranh sớm chấm dứt để cuộc sống dân lành ở quê hương được an yên.

61 năm trên cõi trần, Trúc Đường Phạm Phú Thứ luôn tha thiết bên lòng tư tưởng canh tân đất nước đổi mới quê hương, đó là biểu hiện cao nhất của tấm lòng yêu nước thương dân. Đọc trang viết của Phạm Phú Thứ, ta đồng cảm với nỗi thương nhớ quê nhà cùng niềm ưu tư thế sự của một bậc anh tài giữa buổi nước nhà trong cơn tao loạn. Hai thế kỷ đã đi qua, Trúc Đường Phạm Phú Thứ vẫn mãi là tấm gương sáng của người dân đất Quảng bởi tấc lòng ưu ái suốt đời dành cho nước, cho dân.

----------
(*) Trích thơ Phạm Phú Thứ.

NGUYỄN THỊ THU THỦY
















Home Icon VỀ TRANG CHỦ