Giá thép hôm nay 24/7: Thị trường thép xây dựng trong nước diễn biến thế nào?

Thị trường thép xây dựng trong nước tiếp tục bình ổn
Tại thị trường nội địa, các doanh nghiệp sản xuất thép duy trì mức giá niêm yết ổn định. Cụ thể, Tập đoàn Hòa Phát báo giá thép CB240 và D10 CB300 cùng ở mức 15.120 đồng/kg. Tương tự, Thép Việt Ý tại khu vực miền Bắc ghi nhận giá thép CB240 ở mức 14.850 đồng/kg. Thép Việt Đức tại miền Bắc niêm yết giá thép CB240 và CB300 ở cùng mức 14.750 đồng/kg.
Ở diễn biến cùng chiều, thương hiệu thép VJS miền Bắc báo giá CB240 ở mức 14.850 đồng/kg và D10 CB300 ở mức 14.750 đồng/kg. Trong khi đó, Thép Thái Nguyên chào giá thép CB240 đạt 14.990 đồng/kg và D10 CB300 đạt 14.890 đồng/kg.
Giá quặng sắt và thép thế giới biến động trái chiều
Kết thúc phiên giao dịch ngày 23 tháng 7, giá thép thanh kỳ hạn tháng 8 năm 2026 trên Sàn Giao dịch Thượng Hải tăng 3 nhân dân tệ, tương đương 0,10%, đạt mức 3.061 nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Giao dịch Đại Liên, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 8 cũng ghi nhận mức tăng 4 nhân dân tệ, tương đương 0,54%, lên mức 744,5 nhân dân tệ/tấn. Ở chiều ngược lại, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 8 trên Sàn Giao dịch Singapore giảm 0,26 đô la Mỹ, tương đương 0,26%, xuống còn 97,90 đô la Mỹ/tấn.
Theo thông tin từ Trading Economics, giá quặng sắt kỳ hạn hiện dao động trên mốc 750 nhân dân tệ/tấn và đang phục hồi sau khi chạm vùng đáy hai tuần. Việc sản lượng thép cùng nhu cầu nhập khẩu mạnh mẽ của Trung Quốc đã đóng vai trò nâng đỡ thị trường, bất chấp áp lực từ sự suy yếu của ngành bất động sản.
Sự giằng co giữa các yếu tố tác động đến nguồn cung và cầu
Thực tế cho thấy sản lượng thép thô của Trung Quốc đạt bình quân 2,79 triệu tấn/ngày trong tháng 6, ghi nhận mức cao nhất kể từ tháng 3. Cùng với đó, lượng quặng sắt nhập khẩu của nước này tăng 6,4% so với cùng kỳ, vọt lên mức cao nhất trong 6 tháng là 112,69 triệu tấn. Nhu cầu quặng sắt nhập khẩu tăng còn xuất phát từ việc sản lượng nội địa giảm bớt và các đơn vị tăng cường tái tích trữ, qua đó kéo tồn kho tại các cảng giảm xuống 156,6 triệu tấn trong tuần kết thúc ngày 17 tháng 7, so với mức kỷ lục 166,9 triệu tấn hồi giữa tháng 3.
Tuy nhiên, đà tăng của thị trường vẫn bị kìm hãm đáng kể bởi nguồn cung toàn cầu dồi dào, tiến trình tăng công suất của dự án Simandou tại Guinea và sự suy yếu kéo dài của thị trường bất động sản Trung Quốc. Trong nửa đầu năm, đầu tư vào lĩnh vực bất động sản tại quốc gia này đã giảm 18% và số lượng dự án mới khởi công giảm 23,4% so với cùng kỳ.
Bức tranh diễn biến giá gang trên thị trường toàn cầu
Theo ghi nhận từ GMK Center, giá gang trên các thị trường khu vực nhìn chung giảm trong nửa đầu tháng 7 do những bất định xung quanh chính sách thuế của Mỹ và nhu cầu thép cán yếu. Đáng chú ý, gang của Brazil đã được đưa vào danh sách miễn trừ khỏi mức thuế nhập khẩu 25% của Mỹ từ ngày 22 tháng 7 nhằm tránh làm gián đoạn nguồn cung, khi các nhà sản xuất Mỹ phụ thuộc vào khoảng 3,4 triệu tấn gang nhập khẩu từ Brazil mỗi năm, chiếm 83% tổng lượng xuất khẩu gang của quốc gia Nam Mỹ này. Trong tháng 6, xuất khẩu gang của Brazil tăng 7,6% so với tháng 5, đạt 301.600 tấn, tập trung chủ yếu vào Mỹ với 188.500 tấn ở mức giá 479 đô la Mỹ/tấn và châu Âu với 82.800 tấn ở mức giá 455 đô la Mỹ/tấn. Theo Platts, giá gang khu vực đông nam Brazil hiện duy trì ổn định trong khoảng 495 - 500 đô la Mỹ/tấn (FOB).
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, tính đến ngày 20 tháng 7, giá gang (FOB Biển Đen) giảm 10 đô la Mỹ so với cuối tháng 6, xuống còn 355 đô la Mỹ/tấn do giá thép phế đi xuống và nhu cầu sụt giảm. Tại Trung Quốc, giá gang nội địa đã bao gồm 13% thuế giá trị gia tăng dao động trong khoảng 422 - 431 đô la Mỹ/tấn trong nửa đầu tháng 7. Sản lượng gang nửa đầu năm của nước này giảm 2,8% so với cùng kỳ, xuống còn 427 triệu tấn; riêng tháng 6 giảm 1,3% so với tháng 5, đạt 72 triệu tấn. Tại Ấn Độ, giá gang giảm mạnh tới 30 đô la Mỹ trong nửa đầu tháng 7, xuống mức 375 đô la Mỹ/tấn (FOB).
Tính chung trên phạm vi toàn cầu, sản lượng gang trong 5 tháng đầu năm giảm 2,8% so với cùng kỳ, đạt 569 triệu tấn. Ba quốc gia sản xuất gang lớn nhất thế giới bao gồm Trung Quốc đạt 354,7 triệu tấn, giảm 3,1%; Ấn Độ đạt 66,5 triệu tấn, tăng 4,4%; và Nhật Bản đạt 24,25 triệu tấn, giảm 1,0%.
Thu Hà
10 ngày trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
3 giờ trước
1 giờ trước
50 phút trước
1 giờ trước
1 phút trước
5 phút trước
43 phút trước