🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Giá nông sản ngày 13/4: Cà phê lao dốc, hồ tiêu nhích nhẹ, lúa gạo vẫn trầm lắng

8 giờ trước
Trong ngày 13/4, thị trường nông sản nội địa chứng kiến diễn biến trái chiều giữa ba mặt hàng chủ lực là cà phê, hồ tiêu và lúa gạo. Ở chiều biến động, cà phê tiếp tục giảm sâu theo xu hướng của tuần qua, hồ tiêu tăng nhẹ tại nhiều địa phương, trong khi lúa gạo vẫn duy trì trạng thái giao dịch chậm và ít thay đổi về giá.

Cà phê giảm mạnh tại Tây Nguyên, Robusta suy yếu kéo mặt bằng giá đi xuống

Ghi nhận trong ngày 13/4 cho thấy giá cà phê tại khu vực Tây Nguyên giảm rõ rệt trong bối cảnh thị trường thế giới phân hóa giữa Robusta và Arabica. Hiện nay, giá cà phê nội địa dao động quanh mức 85.200 - 85.800 đồng/kg, thấp hơn khoảng 3.500 đồng/kg so với tuần trước.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Xét theo từng địa phương trọng điểm, Đắk Nông đang dẫn đầu khu vực với mức 85.800 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai và Đắk Lắk cùng đạt mức 85.700 đồng/kg, còn Lâm Đồng ghi nhận thấp nhất với khoảng 85.200 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, trong tuần qua giá cà phê Robusta trên sàn London giảm đáng kể. Cụ thể, hợp đồng kỳ hạn tháng 5/2026 mất 3,6% còn 3.324 USD/tấn, còn hợp đồng tháng 7 giảm 3,2% xuống mức 3.239 USD/tấn.

Ở chiều ngược lại, thị trường Arabica trên sàn New York ghi nhận diễn biến tích cực hơn. Theo đó, hợp đồng tháng 5/2026 tăng 1,6% lên 300,1 US cent/pound, còn hợp đồng tháng 7 tăng 2,2% đạt 295,9 US cent/pound.

Nguyên nhân khiến giá cà phê chịu áp lực giảm chủ yếu đến từ việc nguồn cung gia tăng tại nhiều quốc gia sản xuất lớn. Dù xuất khẩu tháng 3 của Brazil giảm 31%, nguồn cung từ vụ thu hoạch mới vẫn đang dần bổ sung ra thị trường.

Cùng thời điểm, Việt Nam ghi nhận xuất khẩu robusta trong quý I tiếp tục tăng mạnh, đạt khoảng 585.000 tấn, tăng 14% so với cùng kỳ. Tuy vậy, giá trị xuất khẩu lại giảm 5%, phản ánh áp lực giảm giá bán trên thị trường.

Tại Indonesia, nguồn cung robusta cũng đang được bổ sung từ vụ thu hoạch mới, dù điều kiện thời tiết không thuận lợi có thể ảnh hưởng đến sản lượng. Đồng thời, nhiều nông dân có xu hướng giữ hàng và hạn chế bán ra khi giá xuống thấp.

Hiện nay, thị trường cà phê toàn cầu chịu tác động đồng thời từ nhiều yếu tố như nguồn cung, tỷ giá và nhu cầu tiêu thụ. Bên cạnh đó, thời tiết nắng nóng kéo dài cùng chi phí nhiên liệu tăng cao cũng làm gia tăng chi phí sản xuất, từ đó ảnh hưởng đến quyết định bán hàng.

Trong ngắn hạn, giá cà phê, đặc biệt là robusta, nhiều khả năng tiếp tục chịu áp lực giảm. Dẫu vậy, đà phục hồi của arabica cùng các yếu tố tiền tệ có thể đóng vai trò nâng đỡ, giúp thị trường tránh rơi vào xu hướng giảm sâu kéo dài.

Hồ tiêu tăng nhẹ, dao động quanh ngưỡng 138.500 - 139.500 đồng/kg

Trong ngày hôm nay, giá hồ tiêu nội địa tiếp tục ghi nhận xu hướng tăng nhẹ tại nhiều địa phương, với mức tăng khoảng 500 đồng/kg so với tuần trước. Hiện tại, giá tiêu trong nước dao động quanh mức 138.500 - 139.500 đồng/kg.

Về mức giá cụ thể, Đắk Lắk vẫn là địa phương có giá cao nhất khi đạt 139.500 đồng/kg. Đắk Nông giữ mức 139.000 đồng/kg, còn Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu (TP.HCM) cùng ghi nhận mức 138.500 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, giá tiêu xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục tăng thêm khoảng 100 USD/tấn, đạt mức 6.100 - 6.200 USD/tấn đối với tiêu đen loại 500 g/l và 550 g/l. Ngược lại, giá tiêu đen Indonesia giảm nhẹ còn 7.074 USD/tấn, trong khi Brazil và Malaysia lần lượt giữ ổn định ở mức 6.150 USD/tấn và 9.300 USD/tấn.

Đối với phân khúc tiêu trắng, thị trường cũng ghi nhận sự phân hóa rõ rệt. Theo đó, giá tiêu trắng Việt Nam tăng lên 9.000 USD/tấn, trong khi Indonesia giảm nhẹ xuống còn 9.320 USD/tấn và Malaysia tiếp tục giữ mức 12.200 USD/tấn.

Thị trường gạo ổn định, giao dịch trầm lắng tại Đồng bằng sông Cửu Long

Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong ngày 13/4, giá lúa gạo tiếp tục duy trì ổn định và ít biến động so với các phiên trước. Nhìn chung, hoạt động giao dịch diễn ra chậm và thị trường vẫn trong trạng thái trầm lắng.

Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 hôm nay dao động ở mức 8.100 - 8.200 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.000 - 8.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.900 - 9.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg.

Ở thị trường bán lẻ, giá các loại gạo phổ biến hiện không có biến động đáng kể. Trong đó, gạo Nàng Nhen giữ mức cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg, còn các loại gạo thơm như Hương Lài, Jasmine, Nàng Hoa, Đài Loan và gạo thơm Thái dao động trong khoảng 20.000 - 22.000 đồng/kg hoặc thấp hơn tùy chủng loại, trong khi gạo thường phổ biến ở mức 13.000 - 17.000 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục duy trì ổn định với gạo thơm 5% tấm ở mức 440 - 445 USD/tấn, gạo 100% tấm dao động từ 333 - 337 USD/tấn và gạo Jasmine đạt 452 - 456 USD/tấn. Trên thị trường quốc tế, giá gạo của Thái Lan và Ấn Độ trong tuần vẫn đi ngang và không ghi nhận biến động đáng kể.

Lan Lê

TIN LIÊN QUAN
































Home Icon VỀ TRANG CHỦ