🔍
Chuyên mục: Chứng khoán

Giá nông sản hôm nay (28/8): Giá lợn hơi dao động trong khoảng 57.000 - 60.000 đồng/kg, cà phê lao dốc

9 giờ trước
Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

Ngày 28/8, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.

GIÁ GẠO ÍT BIẾN ĐỘNG

Giá lúa gạo hôm nay (28/8) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long biến động nhẹ, giao dịch mua bán vẫn chậm.

Giá lúa gạo hôm nay tại Đồng bằng sông Cửu Long giảm nhẹ

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hôm nay giảm 200 đồng/kg dao động ở mức 8.900 - 9.000 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 giảm 200 đồng/kg dao động ở mức 8.900 - 9.000 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.450 - 8.750 đồng/kg. Hiện tấm thơm dao động ở mức 8.600 - 8.750 đồng/kg; giá cám giảm 50 đồng/kg dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ giá gạo đứng giá. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 16.500 - 18.00 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.500 - 17.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 13.500 - 15.500 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động ở mốc 15.500 - 16.500 đồng/kg.

Phân khúc nếp đi ngang so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.

Với mặt hàng lúa, giá lúa tươi OM 5451 (tươi) hôm nay dao động mốc 6.500 - 6.600 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 6.000 - 6.100 đồng/kg; lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.800 - 7.000 đồng/kg; lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.800 - 7.000 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 dao động ở mức 6.300 - 6.400 đồng/kg.

Tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán lúa mới ngưng trễ, giá lúa tươi có xu hướng giảm. Tại An Giang, thương lái hỏi mua mới lai rai, giá lúa tươi có xu hướng giảm nhẹ. Tại Đồng Tháp, giao dịch lúa mới ngưng trễ, bạn hàng không mua mới. Tại Tây Ninh, Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch mua bán mới ít, giá lúa ít biến động.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam giảm nhẹ so với giữa tuần trước. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 470 - 480 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 373 - 377 USD/tấn (giảm 2 USD/tấn); gạo Jasmine được chào bán ở mức 534 - 538 USD/tấn (giảm 2 USD/tấn).

Trên thị trường thế giới biến động trái chiều, tại Thái Lan, gạo 5% tấm tăng 2 USD/tấn dao động 453 - 457 USD/tấn, gạo 100% tấm giảm 8 USD/tấn dao động từ 366 - 370 USD/tấn.

Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động tăng 4 USD/tấn ở mức 364 - 368 USD/tấn, gạo 100% tấm dao động 304 - 308 USD/tấn.

GIÁ CÀ PHÊ TIẾP TỤC GIẢM

Giá cà phê hôm nay tại khu vực Tây Nguyên tiếp tục đi xuống, giảm thêm 700 - 800 đồng/kg so với ngày hôm trước. Mặt bằng thu mua hiện dao động trong khoảng 95.700 - 96.500 đồng/kg.

Cụ thể, tại Đắk Nông cũ (Lâm Đồng), giá cà phê giảm 700 đồng/kg, xuống còn 96.500 đồng/kg, tiếp tục là mức cao nhất trong các địa phương được khảo sát.

Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cùng giảm 800 đồng/kg, lùi về 96.200 đồng/kg. Trong khi đó, Lâm Đồng giảm xuống còn 95.700 đồng/kg, thấp nhất khu vực.

Như vậy, sau khi có thời điểm tiến sát mốc 100.000 đồng/kg hồi đầu tuần, giá cà phê nội địa đã liên tục điều chỉnh trở lại. Mặt bằng thu mua hiện đã xuống dưới 97.000 đồng/kg tại toàn bộ các vùng trồng trọng điểm.

Trên thị trường thế giới, giá cà phê tiếp tục giảm trên cả hai sàn giao dịch chủ chốt. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta hợp đồng giao tháng 9/2026 giảm 1,78%, tương đương 65 USD/tấn, xuống còn 3.742 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 11/2026 giảm 2,09%, tương đương 77 USD/tấn, còn 3.691 USD/tấn.

Trên sàn New York, giá cà phê Arabica giao tháng 9/2026 giảm mạnh 3,72%, tương đương 13,8 US cent/pound, xuống 357,6 US cent/pound. Hợp đồng tháng 12/2026 giảm 3,98%, còn 322,15 US cent/pound.

GIÁ TIÊU BẬT TĂNG

Giá tiêu hôm nay tại các vùng sản xuất trọng điểm có dấu hiệu khởi sắc trở lại sau nhiều phiên biến động khá hẹp. Mặt bằng thu mua hiện dao động trong khoảng 136.000 - 138.500 đồng/kg. Đáng chú ý, Gia Lai và Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) cùng ghi nhận mức tăng 500 đồng/kg, đưa giá thu mua lên 136.500 đồng/kg.

Giá tiêu hôm nay tại các vùng sản xuất trọng điểm bật tăng

Trong khi đó, giá tại các địa phương còn lại không có biến động mới. Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục dẫn đầu với mức 138.500 đồng/kg. Đắk Lắk đứng kế tiếp ở mức 138.000 đồng/kg.

Đồng Nai hiện giao dịch ở 136.000 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương được khảo sát.

Như vậy, sau chuỗi ngày thị trường chủ yếu đi ngang và giảm nhẹ trước đó, giá tiêu nội địa đã xuất hiện tín hiệu tăng trở lại tại một số vùng. Tuy nhiên, biên độ điều chỉnh vẫn khá hẹp và chưa làm thay đổi đáng kể mặt bằng giá chung.

Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu diễn biến trái chiều tại các quốc gia sản xuất lớn. Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia tăng 0,35%, tương ứng 24 USD/tấn so với ngày trước, lên 6.897 USD/tấn.

Ngược chiều, tiêu đen ASTA 570 của Brazil giảm 1,69%, tương đương 100 USD/tấn, xuống còn 5.800 USD/tấn. Với mức giá này, tiêu Brazil tiếp tục nằm trong nhóm có giá chào bán thấp trên thị trường quốc tế.

Giá tiêu đen Malaysia không thay đổi, duy trì ở mức cao 9.300 USD/tấn. Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu tiếp tục ổn định. Loại 500 g/l và 550 g/l được chào bán trong khoảng 5.990 - 6.050 USD/tấn.

Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia tăng 0,35%, tương đương 33 USD/tấn, lên 9.443 USD/tấn.

Trong khi đó, tiêu trắng Việt Nam tiếp tục được báo giá 8.400 USD/tấn, còn Malaysia duy trì mức 12.200 USD/tấn.

GIÁ CAO SU ỔN ĐỊNH

Tại thị trường trong nước, giá cao su hôm nay tiếp tục giữ ổn định tại các doanh nghiệp được khảo sát.

Cụ thể, tại Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).

Giá cao su tại các doanh nghiệp lớn tại thị trường trong nước bình ổn

Công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 540 đồng/độ TSC/kg; thu mua tại đội sản xuất 530 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) 18.000 đồng/kg.

Công ty Cao su Bà Rịa thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.

Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.

Nhìn chung, giá cao su trong nước chưa chịu tác động đáng kể từ diễn biến phân hóa trên thị trường quốc tế. Các doanh nghiệp tiếp tục giữ giá thu mua ổn định, trong khi thị trường thế giới vẫn cần thêm những tín hiệu rõ ràng hơn về nguồn cung và nhu cầu để xác lập xu hướng mới.

Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su RSS3 trên sàn TOCOM (Tokyo) - Nhật Bản hợp đồng giao tháng 8 ở mức 453,70 Yên/kg, giảm 1,94%. Hợp đồng giao tháng 9 ở mức 440 Yên/kg, giảm 2%.

Tại Thái Lan, giá cao su nội địa nhích nhẹ 0,3 Baht lên mức 87,9 Baht/kg.

Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) - Trung Quốc, giá cao su tự nhiên hợp đồng giao tháng 9 ở mức 17.555 Nhân dân tệ/tấn, giảm 0,85%. Hợp đồng giao tháng 10 ở mức 17.600 Nhân dân tệ/tấn, giảm 0,65%.

Hợp đồng cao su butadien giao tháng 10 có khối lượng giao dịch lớn nhất lao dốc 830 Nhân dân tệ, tương đương 5,62%, còn 13.930 Nhân dân tệ/tấn.

Trên Sàn Giao dịch SGX - Singapore, hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 9 ở mức 236,40 Cent/kg, tăng 0,47%. Hợp đồng kỳ hạn tháng 11 ở mức 230,50 Cent/kg, tăng 0,04%.

Diễn biến giảm đồng loạt trên TOCOM và SHFE cho thấy áp lực điều chỉnh đang gia tăng trên các thị trường cao su chủ chốt tại châu Á, đặc biệt khi các hợp đồng TOCOM giảm khoảng 2% và SHFE giảm 0,65 - 0,85%. Tuy nhiên, SGX vẫn duy trì sắc xanh ở phần lớn kỳ hạn, với mức tăng cao nhất 0,47%, cho thấy lực cầu đối với cao su giao kỳ hạn vẫn còn.

Trong ngắn hạn, giá cao su nhiều khả năng tiếp tục biến động giằng co, khi thị trường phải cân bằng giữa áp lực chốt lời, triển vọng nhu cầu công nghiệp và tín hiệu từ thị trường Trung Quốc.

GIÁ THỊT LỢN GIẢM NHẸ

Tại miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay bắt đầu xuất hiện tín hiệu điều chỉnh sau gần một tuần duy trì xu hướng đi lên. Theo đó, Tuyên Quang, Thái Nguyên và Lạng Sơn cùng giảm 1.000 đồng/kg, trong khi các địa phương còn lại không thay đổi.

Giá lợn hơi xuất hiện nhịp giảm tại miền Bắc

Sau điều chỉnh, giá lợn hơi miền Bắc hiện dao động trong khoảng 59.000 - 60.000 đồng/kg, vẫn là khu vực có mặt bằng thu mua cao nhất cả nước.

Cụ thể, mức 60.000 đồng/kg tiếp tục được ghi nhận tại Cao Bằng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Phú Thọ và Hưng Yên.

Tuyên Quang, Thái Nguyên và Lạng Sơn sau khi giảm giá đã về mức 59.000 đồng/kg, ngang với Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên và Sơn La.

Tại Miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi hôm nay tiếp tục ổn định. Thương lái tại khu vực đang thu mua quanh hai mức 57.000 đồng/kg và 58.000 đồng/kg.

Trong đó, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế và Lâm Đồng giữ mức 58.000 đồng/kg, cao nhất khu vực.

Các địa phương Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk và Khánh Hoà cùng duy trì giá 57.000 đồng/kg.

Tại miền Nam, giá lợn hơi hôm nay cũng không ghi nhận biến động mới. Giá lợn hơi toàn khu vực hiện nằm trong khoảng 57.000 - 58.000 đồng/kg.

Cụ thể, Đồng Nai, Tây Ninh, TP. Hồ Chí Minh và Vĩnh Long cùng giữ mức cao nhất khu vực là 58.000 đồng/kg. Đồng Tháp, An Giang, Cà Mau và Cần Thơ tiếp tục được thương lái thu mua ở mức 57.000 đồng/kg.

Nhìn chung, thị trường lợn hơi cả nước tương đối ổn định trong sáng nay. Miền Trung - Tây Nguyên và miền Nam đồng loạt đi ngang, trong khi miền Bắc bắt đầu xuất hiện một số điểm giảm sau chuỗi ngày tăng liên tiếp.

Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.

Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.

Minh Hoàng

TIN LIÊN QUAN















































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ