GDP quý II tăng 8,39%, 6 tháng đầu năm tăng 8,18%
Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%, đóng góp 5,66%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,81%, đóng góp 47,20%; khu vực dịch vụ tăng 8,09%, đóng góp 47,14%.
Quý II, GDP đạt mức tăng trưởng khá, với tốc độ tăng ước đạt 8,39% so với cùng kỳ năm trước.
Cục Thống kê đánh giá khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp duy trì tăng trưởng ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, đồng thời thị trường xuất khẩu nông sản tiếp tục được mở rộng.
Trong khi đó khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp duy trì mức tăng trưởng tích cực nhờ các động lực tăng trưởng được củng cố, sự phục hồi đơn hàng xuất khẩu và hiệu ứng lan tỏa tích cực của đầu tư công. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ tăng 10,23%, đóng góp 33,07%. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý II ước tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 8,7%).
Khu vực dịch vụ, hoạt động thương mại, vận tải, du lịch cũng đạt mức tăng trưởng khá nhờ nhu cầu tiêu dùng tăng cao, hoạt động lưu thông hàng hóa và đi lại của người dân sôi động, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế.

Tốc độ tăng GDP 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước. (Nguồn: Cục Thống kê)
Cũng theo Cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 giảm 0,39% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu giảm theo giá nhiên liệu thế giới. Trong đó 4 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm và 7 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng. Cụ thể, nhóm giao thông giảm mạnh nhất 4,85% và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng mạnh nhất 0,66% do nhu cầu du lịch hè tăng cùng với chi phí tổ chức tour tăng.

Tốc độ tăng, giảm CPI tháng Sáu so với tháng trước (%). (Nguồn: Cục Thống kê)
CPI bình quân quý II/2026 tăng 5,25% so với quý II/2025. Trong đó chỉ số giá tất cả các nhóm tiêu dùng chính đều tăng.
Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước.
Lạm phát cơ bản tháng 6 tăng 0,14% so với tháng trước và tăng 4,50% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,12% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,38% của CPI bình quân chung, chủ yếu là do giá xăng dầu, gas và thực phẩm biến động mạnh làm CPI chung tăng nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.
6 tháng, nhập siêu 16,65 tỷ USD
Trong tháng 6, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 104,22 tỷ USD, tăng 5,2% so với tháng trước và tăng 36,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu tăng 21,0%; nhập khẩu tăng 33,4%. Tốc độ tăng nhập khẩu cao hơn xuất khẩu cho thấy nhu cầu đầu vào của nền kinh tế tiếp tục mở rộng, đồng thời phản ánh sự phục hồi mạnh của hoạt động sản xuất, đặc biệt tại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 16,65 tỷ USD.

Nguồn: Cục Thống kê
Về kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, tháng 6 đạt 50,79 tỷ USD và quý II đạt 143,6 tỷ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước và tăng 16,8% so với quý I.
Tính chung 6 tháng, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 266,52 tỷ USD, tăng 21,0% so với cùng kỳ năm trước. Có 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD (5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD).
Còn kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 6 đạt 53,43 tỷ USD và quý II đạt 156,6 tỷ USD, tăng 39,1% so với cùng kỳ năm trước và tăng 23,7% so với quý I.
Tính chung 6 tháng, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 283,17 tỷ USD, tăng 33,4% so với cùng kỳ năm trước. Có 38 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD (2 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD).
Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 86,5 tỷ USD và Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 115,2 tỷ USD.
Mỗi tháng có 28,3 nghìn DN thành lập mới và quay lại hoạt động
Trong tháng 6, cả nước có hơn 16,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký hơn 286,3 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 82,5 nghìn lao động. Bên cạnh đó, cả nước còn có 13,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động.
Ngược lại, có 7.245 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, 9.989 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và 4.959 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể.

Tình hình đăng ký doanh nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025. (Nguồn: Cục Thống kê)
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, cả nước có gần 111,7 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký hơn 1.352,6 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký gần 515,3 nghìn lao động. Bên cạnh đó, cả nước có hơn 58,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong sáu tháng đầu năm 2026 lên hơn 169,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2025.
Như vậy, bình quân 1 tháng có 28,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
Ngược lại, 6 tháng đầu năm, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 85,9 nghìn doanh nghiệp, gần 41,2 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và gần 24,0 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể.
Bình quân 1 tháng có 25,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
PHẠM DUY
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
22 giờ trước
14 phút trước
4 giờ trước
16 phút trước
Vừa xong
2 phút trước
5 phút trước
15 phút trước
18 phút trước