🔍
Chuyên mục: Môi trường - Khí hậu

[eMagazine] - Cần đảm bảo an ninh nguồn nước sinh hoạt

6 giờ trước
Nước sạch đóng vai trò thiết yếu phục vụ nhu cầu ăn uống, sinh hoạt, sản xuất của người dân thành phố Đà Nẵng, song nguồn cung hiện chưa đáp ứng nhu cầu. Vì vậy, thành phố cần có kế hoạch cả trước mắt lẫn lâu dài để giải bài toán thiếu nước sạch hiện hữu.

1 Thiếu... nước sạch

Năng lực sản xuất và cung ứng nước sạch hiện chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế. Nhiều khu vực vẫn trong tình trạng “trắng” nước sạch; nơi có hệ thống lại thường xuyên đối mặt với sự cố về chất lượng hoặc mất nước cục bộ.

Nguồn nước ngầm ở Tổ dân phố Triêm Nam (phường Điện Bàn) bị nhiễm phèn nặng. Ảnh: CÔNG TÚ

Để có nước hợp vệ sinh dùng trong ăn uống và sinh hoạt, hộ bà Nguyễn Thị Ba tại tổ đoàn kết số 10 (Tổ dân phố Triêm Nam, phường Điện Bàn) phải đầu tư máy bơm, đường ống và dây dẫn dài hơn 400m để lấy nước từ xa. Chi phí lắp đặt từ tổ đoàn kết số 9 về nhà hết gần 16 triệu đồng. “Khu vực tôi ở chưa có mạng lưới nước sạch. Nước giếng khoan tại chỗ bị nhiễm phèn nặng và bốc mùi hôi, nên gia đình phải chấp nhận tốn kém để có nguồn nước sử dụng”, bà Ba nói.

Tại điểm đóng giếng của hộ bà Ba (Tổ đoàn kết số 9), thực tế có hơn 10 máy bơm được người dân lắp đặt tập trung, khóa chặt vào các trụ điện. Theo ông Lê Doãn Bê, Bí thư Chi bộ Tổ dân phố Triêm Nam, khu vực này rộng khoảng 500m2, có nguồn nước ngầm không bị nhiễm phèn. Tuy nhiên, do khoảng cách xa, chi phí đầu tư lớn và tiêu hao điện năng cao nên rất ít hộ dân từ các tổ khác có điều kiện tiếp cận.

Một số hộ dân Triêm Nam phải khoan giếng ở cách xa nơi ở mới có nước sử dụng hợp vệ sinh. Ảnh: CÔNG TÚ

Ông Bê cho biết thêm, năm 2019, một doanh nghiệp từng triển khai lắp đặt đường ống dẫn nước về khối phố nhưng sau đó bỏ dở. Đến nay, khu dân cư ven sông Thu Bồn với 629 hộ dân (khoảng 3.100 nhân khẩu, tính cả người tạm trú) vẫn chưa có nước sạch.

Trong khi đó, nguồn nước ngầm tại chỗ đều bị nhiễm phèn và nhiễm mặn. “Nếu nước sạch được kéo về, không chỉ người dân Triêm Nam mà một phần thôn Câu Lâu Đông (xã Nam Phước) giáp ranh cũng sẽ được hưởng lợi”, ông Bê cho biết.

Theo thống kê của phường Quảng Phú, tỷ lệ sử dụng nước sạch tại một số khu dân cư như: Quý Ngọc (14,76%), Hòa Thượng (38,32%) và Hòa Hạ (28,60%) vẫn ở mức thấp. Phần lớn người dân dùng nước giếng đào, giếng khoan hoặc các nguồn tự cấp khác chưa đạt quy chuẩn.

Ông Nguyễn Văn Hùng (Tổ dân phố Quý Ngọc) chia sẻ: “Gia đình tôi dùng nước giếng khoan nhiều năm, nhưng mùa khô nước thường cạn kiệt và chất lượng không đảm bảo. Chúng tôi rất mong Nhà nước sớm đầu tư đường ống để người dân có nguồn nước an toàn”.

Tương tự, tại xã Tam Xuân, nhiều khu dân cư vẫn lâm vào cảnh “khát” nước sạch. Ông Lê Duy Hài (thôn Khương Mỹ) cho biết hạ tầng đường ống dẫn nước vào xóm vẫn chưa được đầu tư. Dù người dân đã nhiều lần kiến nghị các ngành chức năng đấu nối hệ thống nhưng đến nay dự án vẫn chưa được triển khai.

Nguồn cung thiếu và yếu

Bà Trần Thị Hồng (thôn Đồng Nghệ, xã Hòa Tiến) phản ánh tình trạng thường xuyên không có nước máy sử dụng. Ảnh: NGỌC QUỐC

Đầu tháng 6, nhiều hộ dân tại xã Hòa Tiến liên tục phản ánh tình trạng thiếu nước sinh hoạt trầm trọng. Tại thôn Đồng Nghệ, cái nóng oi bức càng thêm ngột ngạt khi người dân phải chắt chiu từng xô nước cho nhu cầu thiết yếu.

Bà Trần Thị Hồng (tổ 6, thôn Đồng Nghệ) cho biết, tình trạng nước yếu thường xuyên xảy ra vào mùa khô. Từ 14h đến 20h hằng ngày, nước chảy rất nhỏ giọt hoặc mất hoàn toàn, khiến việc tắm giặt, nấu ăn và vệ sinh cá nhân bị gián đoạn.

“Chúng tôi từng được vận động bỏ nước giếng để chuyển sang dùng nước máy cho đảm bảo vệ sinh. Thế nhưng, tình trạng thiếu nước kéo dài khiến người dân rất bức xúc; nhiều hộ phải tốn kém đào lại giếng cũ. Có đợt mất nước 4-5 ngày liên tục, khi phản ánh thì đơn vị chức năng đến sửa chữa, nước mạnh lên được vài hôm rồi đâu lại hoàn đấy”, bà Hồng chia sẻ.

Nước giếng khoan tại thôn Hòa Ninh (xã Bà Nà) bị nhiễm phèn. Ảnh: NGỌC QUỐC

Ông Ngô Văn Trương, Trưởng thôn Đồng Nghệ, thông tin riêng khu vực Tổ 6 có hơn 80 hộ dân thường xuyên thiếu nước. Nhiều gia đình phải thức canh đến đêm khuya để bơm nước dự trữ. Không ít thời điểm vòi nước không có giọt nào, hoặc khi có lại bị đục, không thể sử dụng ngay, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất.

Ông Nguyễn Hữu Nhân, Trưởng thôn Hòa Ninh (xã Bà Nà) cho biết, dù hệ thống nước sạch được đầu tư từ lâu nhưng gần đây tình trạng nước yếu, mất nước kéo dài thường xuyên xảy ra, gây ảnh hưởng đến hơn 200 hộ dân. Nguồn nước liên tục bị gián đoạn, nhiều ngày đến 15 giờ chiều mới có nước, thậm chí chỉ chảy vào đêm muộn khiến người dân gặp khó khăn trong sinh hoạt hằng ngày.

2 Nhiều hạn chế

Năng lực sản xuất và cung ứng nước sạch phục vụ đời sống dân sinh cùng hoạt động doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến độ bao phủ và tính ổn định của nguồn nước.

Thiết bị máy móc của Nhà máy nước Ái Nghĩa (xã Đại Lộc) đã xuống cấp. Ảnh: CÔNG TÚ

Thống kê cũng cho thấy, khoảng 6.976 hộ dân vùng ven thuộc các khu vực Đại Hòa, Đại An cũ và một phần Đại Hiệp, Đại Nghĩa, Ái Nghĩa cũ vẫn chưa được tiếp cận mạng lưới cấp nước.

Ông Lê Phước Huyền, Giám đốc Trung tâm Cung ứng dịch vụ sự nghiệp công xã Đại Lộc, cho biết Nhà máy nước thị trấn Ái Nghĩa được đầu tư từ năm 2003, sau gần 23 năm vận hành, nhiều hạng mục và thiết bị đã xuống cấp trầm trọng. Mạng lưới đường ống chính chưa được nâng cấp tương ứng với tốc độ tăng trưởng dân số và đô thị hóa. Với công suất thiết kế 4.800m³/ngày đêm, nhà máy hiện không còn đáp ứng đủ nhu cầu thực tế của người dân và doanh nghiệp.

Thêm vào đó, hệ thống ống PVC lắp đặt từ lâu đã hư hỏng, van điều tiết và van xả cặn thiếu đồng bộ khiến tỷ lệ thất thoát nước cao, làm giảm áp lực và chất lượng nước ở cuối nguồn. Vào mùa khô, mực nước sông Vu Gia xuống thấp cũng ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước thô, gây khó khăn cho việc duy trì cấp nước liên tục.

[VIDEO] - Hệ thống thiết bị, máy móc của Nhà máy nước Ái Nghĩa đã cũ kỹ, bị rò rỉ nước:

Ông Nguyễn Kế Hiệp, Phó Trưởng phòng Kinh tế xã Hòa Tiến, thông tin nguồn nước sạch tại địa phương do Xí nghiệp Cấp nước khu vực 2 (thuộc Công ty Cổ phần Cấp nước Đà Nẵng) cung ứng. Tuy nhiên, do áp lực không đảm bảo, khu vực cuối tuyến thường xuyên bị hụt lưu lượng, dẫn đến nước yếu hoặc mất nước. Bên cạnh đó, quá trình thi công quốc lộ 14B nhiều lần làm hư hỏng đường ống, gây gián đoạn hệ thống vận hành.

Công nhân Nhà máy nước Cầu Đỏ đang vận hành hệ thống cấp nước. Ảnh: XUÂN SƠN

Theo Chủ tịch UBND phường Hải Vân Nguyễn Thúc Dũng, qua các đợt tiếp xúc cử tri, người dân hai tổ Tà Lang và Giàn Bí đã kiến nghị thành phố sớm đầu tư trạm xử lý nước tại đập dâng Nam Mỹ. Thành phố đã có chủ trương đầu tư trạm xử lý, xây dựng tuyến ống dẫn nước sạch kết hợp hệ thống bơm tăng áp và bể chứa trung gian, nhưng đến nay vẫn chưa triển khai. Người dân hiện vẫn phải phụ thuộc vào nguồn nước tự nhiên với nguy cơ thiếu hụt cao trong mùa khô.

Tại phường Điện Bàn, tỷ lệ sử dụng nước sạch vùng ven vẫn còn thấp, như Điện Minh chỉ đáp ứng 54,8% và Điện Phương 33,4%. Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Chủ tịch UBND phường, cho biết nguyên nhân chủ yếu do hai khối phố Triêm Tây và Triêm Nam chưa có hệ thống ống dẫn tập trung; nhiều kiệt hẻm cũng chưa được phủ lưới cấp nước. Vào mùa khô, tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn trên sông Thu Bồn càng khiến áp lực nước yếu và bị nhiễm mặn.

Ông Võ Tấn Hà, Phó Giám đốc Sở Xây dựng thành phố Đà Nẵng, nhận định tỷ lệ dân cư đô thị được tiếp cận nước sạch tập trung tại khu vực tỉnh Quảng Nam (cũ) còn thấp. Nguyên nhân do địa bàn rộng, dân cư phân bố thưa thớt, khiến việc đầu tư hệ thống cấp nước kém hiệu quả về mặt kinh tế. Ngay cả ở đô thị, thói quen sử dụng nước giếng khoan, giếng đào của người dân cũng làm hạn chế số lượng đấu nối mới.

Thống kê tỷ lệ dân số đô thị của 23 phường được cung cấp nước sạch.

Rà soát cho thấy, giá bán lẻ nước sạch tại khu vực Quảng Nam (cũ) cao hơn so với Đà Nẵng (cũ) và chưa bao gồm chi phí đấu nối (người dân phải tự chi trả). Đây là rào cản chính làm giảm tỷ lệ hộ dân đăng ký sử dụng nước sạch từ hệ thống tập trung.

Cũng theo ông Hà, tỷ lệ thất thoát nước tại một số nhà máy ở Quảng Nam (cũ) rất cao, dao động từ 30 - 40%. Các nhà máy do cấp xã quản lý vốn được đầu tư từ lâu bằng ngân sách, nay công nghệ đã lạc hậu, mạng lưới đường ống xuống cấp, thường xuyên rò rỉ hoặc vỡ ống, không đáp ứng kịp thời nhu cầu của nhân dân.

3 Cần giải bài toán thiếu nước sạch

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, việc tìm lời giải cho bài toán thiếu nước sạch là yêu cầu cấp bách đối với các ngành chức năng và địa phương, cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn.

Người dân Tỉnh Thủy (phường Quảng Phú) phấn khởi khi được sử dụng nước sạch thay cho nguồn nước bị nhiễm phèn. Ảnh: QUANG SƠN

Ông Trương Anh Quốc, Phó Chủ tịch UBND phường Điện Bàn Đông, cho biết tình trạng thiếu nước sạch tập trung chủ yếu ở các khu đô thị chưa được đầu tư hạ tầng (khu dân cư 1A, 1B), hoặc nơi đã có hệ thống nhưng chủ đầu tư chưa vận hành (khu phố chợ Điện Nam Trung, khu dân cư chợ Điện Dương). Ngoài ra, mạng lưới của Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Quảng Nam cũng chưa bao phủ hết các khu vực này.

Ông Quốc kiến nghị thành phố sớm có chủ trương bàn giao hạ tầng cấp nước đã hoàn thiện cho Sở Xây dựng quản lý để thống nhất vận hành. Hiện giá nước tại Điện Bàn Đông (bậc 1 là 8.953,9 đồng/m3) cao gần gấp đôi so với phường Ngũ Hành Sơn (bậc 1 là 4.550 đồng/m3); chi phí đấu nối cũng dao động từ 1-3 triệu đồng. Do đó, UBND thành phố cần xem xét điều chỉnh giá bán lẻ đồng bộ và tính chi phí lắp đặt công tơ vào giá bán để người dân dễ dàng tiếp cận.

Cần sớm đầu tư nâng cấp Nhà máy nước Ái Nghĩa (xã Đại Lộc). Ảnh: CÔNG TÚ

Nhằm đảm bảo nguồn nước, xã Đại Lộc kiến nghị thành phố hỗ trợ kinh phí nâng công suất Nhà máy nước Ái Nghĩa lên 10.000m³/ngày đêm theo quy hoạch, đồng thời cải tạo mạng lưới đường ống đồng bộ. Ngoài ra, cần điều chỉnh công suất Nhà máy nước Giao Thủy lên 5.000m³/ngày đêm vào năm 2030 và định hướng đạt 10.000m³/ngày đêm sau đó, nhằm đáp ứng lộ trình phát triển đô thị và thu hút đầu tư.

Trong khi đó, theo UBND phường Quảng Phú, việc mở rộng mạng lưới cấp nước gặp khó do nguồn vốn hạn hẹp, trong khi nhiều khu dân cư vùng ven nằm xa hệ thống chính. Việc đầu tư mới đòi hỏi kinh phí lớn và sự phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị cấp nước với các cơ quan quản lý để đảm bảo tính đồng bộ với quy hoạch hạ tầng, giúp người dân sớm tiếp cận nguồn nước đảm bảo chất lượng.

Ông Võ Tấn Hà, Phó Giám đốc Sở Xây dựng thành phố, cho biết để ứng phó với hạn hán và xâm nhập mặn, đảm bảo nguồn nước thô cho các nhà máy vận hành an toàn, UBND thành phố đã chỉ đạo các sở, ngành thực hiện quyết liệt nhiều giải pháp. Trong đó, yêu cầu nghiêm túc triển khai Kế hoạch số 121/KH-UBND ngày 17/3/2026 về các biện pháp khẩn cấp bảo đảm nước sinh hoạt năm 2026.

Đường ống nước lắp đặt đến Tổ dân phố Triêm Nam (phường Điện Bàn) bị bỏ hoang gần 7 năm nay. Ảnh: CÔNG TÚ

Thành phố đã triển khai đắp đập tạm trên sông Quảng Huế để điều tiết nguồn nước về hạ du sông Vu Gia và xây dựng đập ngăn mặn tạm thời trên sông Vĩnh Điện. Về lâu dài, các công trình kiên cố như đập ngăn mặn, giữ ngọt trên sông Thu Bồn, sông Vĩnh Điện và kiên cố hóa đập Quảng Huế đang được đầu tư để đảm bảo nguồn nước thô trong mùa cạn.

Người dân Tổ dân phố Tỉnh Thủy đăng ký sử dụng nước sạch với Trung tâm Cung ứng Dịch vụ sự nghiệp công phường Quảng Phú. Ảnh: QUANG SƠN

Đồng thời, thành phố yêu cầu các chủ hồ thủy điện vận hành xả nước đúng quy trình liên hồ chứa trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn, đảm bảo hài hòa giữa lợi ích kinh tế và nhu cầu dân sinh hạ du. Các nhà máy nước không bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn được chỉ đạo vận hành tối đa công suất, kết hợp khai thác hiệu quả các trạm xử lý nhỏ lẻ.

Ngành chức năng cũng rà soát, thực hiện kịch bản ứng phó cấp nước an toàn với 8 tình huống cụ thể tương ứng với các cấp độ nhiễm mặn khác nhau. Các đơn vị cấp nước phải lập thỏa thuận dịch vụ, xây dựng kế hoạch phát triển mạng lưới tại các khu vực còn trống để trình UBND thành phố phê duyệt triển khai.

Ngoài ra, đơn vị cấp nước cần có lộ trình thay thế đường ống cũ, tăng cường tuần tra để khắc phục kịp thời các sự cố rò rỉ, giảm tỷ lệ thất thoát. UBND các xã, phường cũng cần đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân đấu nối vào hệ thống cấp nước tập trung để nâng cao chất lượng đời sống.

Nội dung: CÔNG TÚ - NGỌC QUỐC - QUANG SƠN

CÔNG TÚ - NGỌC QUỐC - QUANG SƠN




















Home Icon VỀ TRANG CHỦ