🔍
Chuyên mục: Nghệ thuật

Dưới lăng kính của nhà báo Huỳnh Dũng Nhân

1 giờ trước
Sống, lăn lộn với nghề báo suốt nhiều năm trong dòng chảy 101 năm nền báo chí cách mạng Việt Nam, cây bút gạo cội Huỳnh Dũng Nhân có những chia sẻ, góc nhìn hết sức phong phú, độc đáo về nghề báo, nền báo chí với phóng viên trẻ Quang Ngọc.

Tòa soạn hội tụ.

Câu hỏi: Theo nhà báo Huỳnh Dũng Nhân, khái niệm thương hiệu nhà báo là gì? Các tiêu chí tạo ra thương hiệu nhà báo?
Huỳnh Dũng Nhân: Khái niệm đúng nghĩa của nhà báo tức một người đưa tin cho mọi người biết. Thương hiệu là người tạo nên tên tuổi cho mình và cho tờ báo, cho bạn đọc của mình, gắn kết với nhau. Thương hiệu vừa là tên, vừa là tuổi, vừa là thành công của mình, uy tín của mình, phong cách của mình, dấu ấn của mình. Đấy trở thành thương hiệu.
Câu hỏi: Góc nhìn của nhà báo Huỳnh Dũng Nhân về lao động sáng tạo của nhà báo?
Huỳnh Dũng Nhân: Về sáng tạo nhà báo, có người bảo báo chí là truyền đạt thông tin, là phản ánh thông tin, làm gì có sáng tạo. Nhưng tôi nghĩ, báo chí là một trong những lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, có tinh thần, có hoạt động về in ấn, về văn bản, về thể hiện thì báo chí phải có tính sáng tạo. Mình sáng tạo ở chỗ có quyền chọn lựa, lấy cái gì không lấy cái gì, phản ánh cái gì, viết cái gì, đưa mức nào không đưa mức nào, làm thế nào cho hay hơn cái có thể. Đấy là sáng tạo, tức báo chí vẫn là nó nhưng phải hay hơn nó, đẹp hơn nó, dễ chịu hơn nó, dễ đọc hơn nó, dễ tiếp thu hơn, dễ đi vào lòng người hơn, không phải bê nguyên si. Báo chí cũng có sáng tạo.
Ví dụ, đặt tít tựa phải sáng tạo, cách vào đề, bố cục, cách dùng câu chữ cũng phải sáng tạo để bài viết hấp dẫn, kết thúc một bài báo phải nghệ thuật. Ai cũng kết bằng câu hỏi, bằng kết luận, bằng trích dẫn bài báo, trích dẫn câu nói, thì còn gì là sáng tạo. Sáng tạo là tìm cái hay nhất làm cảm xúc đột ngột dâng trào lên. Ví dụ, có rất nhiều vở kịch làm theo đầy đủ cấu trúc, nhưng có vở kịch không có đoạn kết để người xem tự quyết định cái kết là gì, mọi người tự phân tích. Vở kịch không kết trao “quyền sáng tác” cho người xem, chính họ tham gia vào sáng tạo. Không phải mình đem một mẫu câu, mẫu nội dung, mẫu câu chuyện “đã rồi”. Báo chí và văn học nghệ thuật nói chung không đem cái “đã rồi” đến với bạn đọc, chỉ làm cho người ta tiếp tục suy nghĩ, sáng tạo và tìm ra cách giải quyết.
Báo chí hoàn toàn có tính sáng tạo. Nhiều người thích phóng sự của tôi vì tôi “lôi” họ vào câu chuyện. Có 3 cách làm nên phóng sự hay: Thứ nhất, đề tài hay. Thứ hai, thể hiện hay, viết hay, ảnh đẹp, độc đáo. Thứ ba, hiệu ứng cao. 100 nhà báo không phải ai cũng viết giỏi, nhưng họ có đề tài hay, họ vấn hay. Đề tài được nhiều người quan tâm, làm thay đổi vấn đề đó, tức hiệu ứng tốt hơn. Ví dụ viết về một xã nghèo không có nước, viết xong bỗng nơi đó được giúp đỡ có nước ngay. Có những bài đề tài không có gì đặc biệt, không mang lại hiệu ứng, nhưng cách viết làm người ta rung động, vậy là vẫn cứ hay. Đấy là sáng tạo.
Có người nghiên cứu về phóng sự nói phóng sự không cần bám vào thời sự. Trong 10 việc có thể tập trung lại viết thành 1 đề tài, không cần phải hôm nay xảy ra cái gì thì viết về cái đấy. 10 sự việc diễn ra trong Tết này, mình viết được chuyện của Tết Bính Ngọ. Ví dụ, tôi viết về Tết buồn. Đây là việc rất nhiều người nhìn thấy nhưng không ai viết cả. Báo chí phải luôn luôn tai nghe, mắt thấy. Tai nghe xem xung quanh họ nói gì, mắt thấy để quan sát tất cả. Họ có nói gì về Tết không, về lương thưởng hay có bảo sau Tết “chán cơm thèm phở” không? Tam giác sự thật nằm trên khuôn mặt: mắt, miệng, tai. Mắt thấy, tai nghe, miệng hỏi thì mới ra sự thật. Mình không có cái này thì không phải là nhà báo. Nhà báo nhìn cái gì cũng viết được.
Ví dụ có ông giám thị ở trại cải tạo và một viên tướng của chế độ cũ đang đi cải tạo. Anh giám thị hỏi viên tướng: “Ông và tôi có gì khác nhau, cùng chế độ, cùng đi lính, vậy thì có gì khác nhau?”. Viên tướng nghĩ mãi không ra, anh giám thị bảo: “Tôi rẽ tóc bên trái, anh rẽ tóc bên phải”. Đôi khi chuyện đơn giản mà mình không biết. Trong báo chí, đôi khi chính những câu chuyện đó khiến người ta thích thú, một thói quen cũng nói lên một con người.
Báo chí sáng tạo kinh khủng, các tác giả hơn nhau ở chỗ sáng tạo. Tại sao đi Trường Sa ai cũng nói về cây bàng, về đất liền xa nhớ, về biển đảo, về nỗi nhớ người yêu, nhưng có ông chỉ viết về mấy con chó cận huyết, dị dạng. Có phải vấn đề của chiến tranh, của việc xa đất liền? Đầu óc phải sâu sắc mới viết được. Nếu chỉ viết cái người ta thấy, không viết được cái người ta nghĩ thì chưa đủ độ chín của sáng tạo. Người viết phóng sự phải viết được cái mình nghĩ và cái mình nghĩ phải hơn người. Đôi khi người viết báo không nghĩ ra nhưng họ lượm nhặt chuyện người khác nghĩ, đấy là kinh nghiệm. Khi mình chưa thấy hết cái hay, cái đẹp cuộc sống, cái đau, cái buồn. Nhưng chính người khác nói, mình tổng hợp lại, vơ vét, thâu tóm, tích lũy lại, thành ra nhiều.

Huỳnh Dũng Nhân (người ngồi trước) một thời “trên từng cây số”.

Câu hỏi: Ông hiểu kinh tế báo chí ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
Huỳnh Dũng Nhân: Kinh tế báo chí Việt Nam hiện nay tôi thích dùng chữ là sống chung, sống chung với điều kiện thực tế. Tức đã có những lúc chúng ta làm báo rất nghèo, và đã có những lúc chúng ta đã được giúp đỡ, trợ cấp, đã được bao cấp. Đã có những lúc chúng ta là xã hội hóa, tức mời các đơn vị cùng làm. Có những lúc chúng ta được chủ động kinh tế, tức là tự hạch toán. Chúng ta chủ động hết tất cả những cái đó để chúng ta tìm ra một mô hình. Mô hình kinh tế báo chí gắn với kinh tế đất nước, gắn với chủ trương chính sách.
Câu hỏi: Ông nghĩ sao việc các loại hình báo chí Việt Nam nếu được bao cấp thì dở sống dở chết nên phải tự bươn chải?
Huỳnh Dũng Nhân: Nếu được bao cấp thì dở sống dở chết cũng không đúng. Thật ra bao cấp đã tạo ra một nền báo chí, chỉ là động lực và cách phục vụ cống hiến khác nhau thôi. Nó đã nuôi cả một thế hệ, cả một giai đoạn. Nhưng nó phải gắn bó với lịch sử, với đất nước, đã có một thời bao cấp làm được những việc của nó, bây giờ nó có những điều không phù hợp nữa chứ không phải nó dở. Bây giờ không phải sống dở chết dở mà thực tế nó phải thay đổi. Nó đã thay đổi thì không ai bao cấp được nữa, chỉ còn một số ít tờ báo được bao cấp thôi. Chúng ta phải biết, những cái cơ bản phải có nhà nước hỗ trợ. Ngoài ra, các báo phải tự hạch toán, phải tự làm kinh tế, tự sống, lại có cái hay và cũng có cái dở của nó. Làm kinh tế quá đà sẽ xảy ra tiêu cực.
Không nên coi thường giai đoạn bao cấp, vì nó đã tạo ra cả một nền báo chí phục vụ tuyên truyền đấu tranh cho giai đoạn xây dựng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Báo chí lúc đó ít lắm, bao cấp cũng không phải như bây giờ. Bây giờ bao cấp không nổi đâu. Bây giờ tới hơn 800 đơn vị báo chí, hồi xưa có mấy tờ thôi. Thế nên, chúng ta nên nghĩ một cách đúng đắn về thời gian bao cấp cũng như thời gian đổi mới, cũng không nên lấy cái này để so sánh, phân biệt và phán xét cái kia.
Câu hỏi: Theo ông, vì sao báo chí Sài Gòn lại phát triển sớm hơn Hà Nội?
Huỳnh Dũng Nhân: Báo chí Sài Gòn phát triển sớm hơn Hà Nội. Thứ nhất, do tình hình lịch sử của đất nước. Sau khi Pháp xâm chiếm và đô hộ từ những năm 1890, bắt đầu chia ba miền Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ. Người Bắc người Nam giai đoạn đầu đi qua đi lại được, văn phong, chữ nghĩa, mọi thứ bắt đầu phổ biến trên đất nước mình. Người ta có câu “Văn Bắc báo Nam”. Người miền Bắc hợp với văn chương, văn học vì điều kiện thời tiết khắc nghiệt, chia làm bốn mùa, làm tâm tính người miền Bắc nghĩ ngợi nhiều, sống sâu sắc, đa đoan và có nhiều hướng đi tới vấn đề lớn. Còn người Nam sống phóng khoáng, giống mới mở đất về phía Nam, họ là vùng đất mới, sống hào sảng và có một tâm tính ít nghĩ ngợi hơn, vui vẻ hơn và giao du rộng rãi, thân thiện hơn. Chính cái đó cũng ảnh hưởng đến tính chất của báo chí, đó là một trong những nguyên nhân làm báo phát triển hơn.
Thứ hai, cơ chế báo chí ở phía Nam thích hợp hơn vì nó phát triển nhanh, kể cả báo lẫn truyền hình. Truyền hình có sớm hơn miền Bắc. Cách sống, cách làm việc cũng phù hợp vì báo chí hợp với tính cách cởi mở, mọi thông tin đều muốn công khai, công bố, chia sẻ, còn người Bắc thâm trầm hơn, kín đáo hơn, diễn ra trên chữ nghĩa ít hơn.
Chúng ta cũng biết khi Cách mạng Pháp có cuộc cách mạng dân chủ, họ phát triển từ chữ Hán, bắt đầu mất dần, chữ Hán Nôm cũng ít đi và thêm vào chữ Pháp và chữ Quốc ngữ, miền Bắc giữ cái đó lâu hơn. Họ sang văn chương, còn miền Nam, chữ Pháp vào thì phong trào cách tân nhanh hơn, cách tân sự nghiệp, cách tân lối sống, tất cả đều nhanh hơn nên báo chí hợp với những tinh thần đó. Chế độ cai quản đô hộ cũng mở rộng cho báo chí phát triển hơn, cấp giấy phép, cấp xuất bản, ai cũng có thể mở mang báo chí và tự do ngôn luận, ít siết chặt như phía Bắc nên ở miền Nam phát triển nhiều hơn. Từ đặc điểm đất nước, lịch sử, địa lý, tính cách con người đến chính sách chính trị đô hộ cai quản, tâm tính con người cũng ảnh hưởng ít nhiều. “Văn Bắc báo Nam” là vì vậy.
Cũng phải nói thêm, độ sâu thì chưa chắc báo ở miền Nam mạnh đâu. Độ sâu sắc cả văn cả báo miền Bắc vẫn mạnh. Còn báo trong Nam mạnh về số đông. Sau này, thời Pháp thuộc, báo phía Nam vẫn cứ mạnh mẽ vì thị trường. Người miền Nam rất thích đọc báo, ai cũng biết họ đọc báo buổi sáng, cà phê phải có tờ báo. Thông tin đến từ thời chưa có mạng chủ yếu đến từ báo in nhiều và cái thú ngồi cà phê buổi sáng thì người Bắc ít hơn người Nam. Sau này người Bắc mới uống nhiều, lúc đầu người Nam ngồi vỉa hè nhiều lắm, trẻ em bán báo, người già bán báo đông nên du nhập vào lối sống như thế, báo từ đó cũng mạnh.
Báo ở trong này có tính giải trí cao, cao hơn miền Bắc. Ngoài Bắc cả một giai đoạn dài phải tuyên truyền, trong Nam giải trí hơn, nhiều báo thuần túy chỉ giải trí thôi, nói mạnh chưa đúng, nó chỉ rộng rãi, có nhiều yếu tố của thời cuộc. Sau này ai cũng thấy bắt đầu thống nhất đất nước thì có báo miền Bắc, báo miền Nam, có những tờ báo có cả ở phía Bắc, có cả ở phía Nam, ví dụ, báo Lao động có báo Lao động Trung ương ngoài Bắc, có báo Lao động TPHCM trong Nam. Báo Phụ nữ có báo Phụ nữ Việt Nam, báo Phụ nữ TPHCM. Báo nào cũng có một tờ nhỏ trong này, rõ ràng báo trong này thoáng hơn, linh hoạt hơn, liên quan đến thị trường nhiều hơn, đến bạn đọc giải trí, bạn đọc rộng rãi và bớt tính gò bó nên báo phát triển nhiều. Không nói về đẳng cấp và chiều sâu, tôi chỉ muốn nói về sự phổ cập. Các bạn cứ để ý, nơi nào sống thế nào thì các loại hình văn chương nghệ thuật sẽ phát triển phù hợp với nơi đó.

Nhà báo vẽ nhà báo.

Câu hỏi: Bài học của tổng biên tập nghề báo là bài học gì thưa ông?
Huỳnh Dũng Nhân: Tổng biên tập cần biết mình là người “trên đe dưới búa”: Trên là sự quản lý; dưới là bạn đọc, là nhân viên. Tố chất tổng biên tập là phải cân đối, hài hòa. Tổng biên tập giỏi phải biết điều hành, biết quản lý, biết làm kinh tế cho báo mình, nuôi được phóng viên. Trách nhiệm của tổng biên tập là giúp cho tờ báo của mình không ngừng vươn lên, có chỗ đứng trong lòng bạn đọc.
Câu hỏi: Theo ông, tổng biên tập của các cơ quan báo chí hiện nay là người như thế nào?
Huỳnh Dũng Nhân: Tổng biên tập qua các thời kỳ phải chấp hành chủ trương chính sách quản lý và điều hành của Đảng và Nhà nước, của Chính phủ. Báo chí là tổ chức của Đảng, Nhà nước nên phải có thế hệ tổng biên tập chấp hành các quy định. Một số tổng biên tập khác có tư duy đổi mới, sáng tạo, tìm tòi và làm kinh tế giỏi. Đến hôm nay có một số tổng biên tập quay lại mô hình thời đầu dưới sự quản lý chặt chẽ và điều hành đúng đắn, đi vào quy mô, khuôn mẫu và bắt đầu chịu nhiều ảnh hưởng từ các mối quan hệ khác nhau. Vì thế, họ điều hành thể loại báo chí đa phương tiện chứ không còn là một tờ báo đơn thuần nữa. Tờ báo đa phương tiện này chưa được gọi là tập đoàn nhưng đã hoạt động gần như một tập đoàn, tức nó lớn hơn, nhiều khó khăn hơn, nhiều thử thách hơn, có một quy trình cam go đối với các tổng biên tập sau này. Dạo này, các tổng biên tập trẻ hơn trước, công nghệ hơn, có tiếng Anh và được đào tạo quy củ hơn.

QUANG NGỌC (thực hiện)












Home Icon VỀ TRANG CHỦ