🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Dưới bóng tre làng

2 giờ trước
Xóm Đình quê tôi là một xóm nhỏ, chỉ có bảy hộ nằm giữa cánh đồng bên cạnh đình Đông Bàn, là làng quê văn hiến. Như có sự sắp xếp của tự nhiên, con sông Thu Bồn chảy về đến bến Tư Phú, quê hương của Trần Cao Vân, bỗng tách làm hai nhánh, về đến Câu Lâu mới hợp lại thành một, để đổ ra Cửa Đại.

Tuổi thơ làng quê dưới bóng tre. Ảnh: Tư liệu

Dải đất nhô lên giữa dòng sông gọi là Gò Nổi ấy trước đây có đến ba xã, nay sáp nhập thành xã Gò Nổi. Trên cánh đồng rộng mênh mông, nơi có đình Đông Bàn do ông cố họ tôi là Phạm Phú Thứ, lập ra để ghi tên những người đỗ tiến sĩ thường được gọi là “Văn thánh Đông Bàn”.

Cùng với sáu gia đình khác, gia đình tôi sinh sống trong một bờ tre nằm nép mình cạnh ngôi đình làng ấy. Với tôi, những gì được soi chiếu dưới bóng tre làng thời xa xưa ấy, còn quẫy đạp trong ký ức đời tôi, đều trở thành những sinh thể văn hóa, có giá trị lâu bền nuôi dưỡng tâm hồn tôi còn ấm nóng đến bây giờ.

Văn hóa làng quê tôi là bóng tre, là cây đa che rợp mái đình, là mùi rơm rạ, mùi cỏ đốt đồng trong đó có cả phân khô trâu bò khét nắng; là tiếng gà vịt lao xao, tiếng trâu bò động đực gọi váng cả trời chiều; là con mương đầu làng chúng tôi tập bơi trước khi vượt sông mỗi đêm giặc càn, bố ráp; là tiếng xe tăng gào thét hòa lẫn trong tiếng máy bay trực thăng xành xạch trên đầu vẫn ôm súng dưới công sự nằm chờ giặc tới...

Thời trẻ, cứ xông lên xốc tới, lúc về già tôi mới nghiệm ra rằng, văn hóa quê nhà thực ra chỉ là văn hóa nhà quê, văn hóa tre làng. Cũng chính dưới gốc những bụi tre ấy, đêm đêm, tôi, một thằng bé vừa hơn mười tuổi, ngồi canh chừng cho cha tôi đào tìm mạch sống dưới gốc những bụi tre. Chỉ một xóm nhỏ mấy nóc nhà, nhưng bà con trồng rất nhiều tre, những hàng tre ngang, dọc quanh làng, trông xa như một rừng tre.

Tôi nhớ là dưới những bụi tre ấy, cha tôi và các chú ở tổ sản xuất đơn vị bộ đội R20 của tỉnh đội, đã đào sáu, bảy cái hầm bí mật. Nhiều dạng, nhiều kiểu, nhiều ngõ ngách... tạo sự bất ngờ mà lính đi càn không thể phát hiện ra. Mỗi khi có đợt càn quét, họ phân công nhau xuống hầm và bố trí một cách chủ động, để chẳng may bị xăm trúng hầm thì phải ứng phó, chiến đấu ra sao...

Mà thôi, “nhớ chi hoài mệt óc/ chuyện nói cười một thuở gian lao” (Khúc ngâm đùa chơi, Hoàng Phủ Ngọc Tường).

Nhưng tre bây giờ cũng đang dần ít đi. Tre cũng như nhiều sinh thể khác trong văn hóa truyền thống cũng đang có nguy cơ mai một, trong quá trình xây dựng nông thôn mới. Đạn bom, máy cày, máy ủi chà đi xát lại bao lần, nhưng không giết nổi sức sống những bụi tre. Tre chỉ chết đi khi bây giờ người ta bê tông hóa mọi con đường trong thôn, trong xóm.

Tôi biết nhờ đâu tôi sống, nhờ vào điều gì tôi mạnh mẽ lớn lên, để cố gắng thành người, dù rằng theo phân bậc của xã hội bây giờ, tôi là công dân hạng bét, mỗi lần có trục trặc gì về sức khỏe, phải đến trạm y tế phường, lên trạm khu vực, rồi thành phố, mới đến bệnh viện tỉnh khám và điều trị... Nhưng tôi vẫn vui vì “văn hóa nhà quê” của mình, vì nhờ đó đã chăm bẵm, nuôi nấng tôi thành một con người!

Có hai bài thơ của hai nhà thơ thời danh là Thu Bồn và Nguyễn Duy có tựa đề là Tre xanh, nhưng tôi thích bài của Thu Bồn hơn, bởi tre của Nguyễn Duy là tre Thanh Hóa, còn của Thu Bồn là cây tre quê hương tôi, cây tre kháng chiến, cây tre nuôi mầm sống của cách mạng với một nhịp điệu thênh thang, sống động - tre không đứng yên rũ lá một cách mỹ miều, mà là cây tre mang trạng thái động, sinh sôi: “Tôi bước đi dưới tre bồng chân sáo/ Đường hành quân mỗi lần tre níu áo/ Lòng bồi hồi chợt nhớ bóng tre xưa/ Có tiếng chim gù và tiếng võng mẹ ru đưa...”. Những câu thơ tôi thuộc nằm lòng từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước, nuôi tôi lớn lên và dạy tôi biết đứng thẳng làm người, biết đi theo bóng tre làng ngày ấy.

Tôi bỗng nhận ra rằng, cứ mỗi lần đất trời chuyển động, cây lá nảy lộc đâm chồi, tôi lại nhớ đến bóng tre: sức sinh sôi của giống tre cũng giống như tấm lòng con người đối với cội nguồn, với quê hương đất nước. Mọi điều rồi có thể đổi thay. Nhưng lòng yêu nước của dân mình, tuy biểu hiện mỗi thời mỗi khác, nhưng không có gì dập tắt nổi, bởi, nó đã trở thành những sinh thể cứ sinh sôi nảy nở, cô đặc lại thành một chất tinh túy sáng lấp lánh, có sức vẫy gọi mọi người. Đó là văn hóa yêu nước, xuất phát từ dưới bóng tre làng, cũng là một thứ văn hóa tre làng, mỗi khi nhớ đến lòng lại cảm thấy rưng rưng.

Theo tôi, hẳn nhiên là có một sinh thể văn hóa được gọi là văn hóa tre làng, nó không chỉ là niềm thương nỗi nhớ trong tâm tưởng cuộc đời của riêng tôi, mà còn có sức chi phối cả một vùng sinh quyển rộng lớn trong đời sống tinh thần và vật chất của con người, từ lời ru của bà, câu hò của mẹ đến các biểu tượng mang ý nghĩa sử thi; từ cây tăm, cây nhang, đôi đũa đến tòa nhà, hoặc lũy tre kháng chiến, ở đâu cũng không thể thiếu bóng dáng của tre làng...

PHẠM PHÚ PHONG
















Home Icon VỀ TRANG CHỦ