🔍
Chuyên mục: Nghệ thuật

Đưa lễ hội truyền thống thành sản phẩm công nghiệp văn hóa

3 ngày trước
Từ không gian tín ngưỡng thuần túy, lễ hội truyền thống đang được định hướng trở thành sản phẩm công nghiệp văn hóa đặc sắc. Đây không chỉ là cách bảo tồn di sản bền vững mà còn là đòn bẩy kinh tế quan trọng trong kỷ nguyên mới.

Di sản chuyển mình

Những năm qua, nhiều quốc gia đã biến lễ hội thành nguồn lực kinh tế bền vững. Thái Lan nổi tiếng với lễ hội té nước Songkran; Trung Quốc thu hút hàng triệu khách với lễ hội thuyền rồng, lễ hội Trung thu; Nhật Bản với lễ hội hoa anh đào... Các lễ hội này không chỉ là sinh hoạt văn hóa cộng đồng mà được tổ chức bài bản, thu hút lượng khách đông đảo và mang lại nguồn thu lớn cho địa phương. Đó là minh chứng sống động cho việc khai thác thành công lễ hội dân gian thành sản phẩm công nghiệp văn hóa.

Đưa lễ hội trở thành sản phẩm công nghiệp văn hóa là đòn bẩy kinh tế quan trọng trong kỷ nguyên mới. Ảnh: TH

Tiềm năng của Việt Nam không hề thua kém. Theo số liệu của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nước ta có gần 8.000 lễ hội truyền thống. Hà Nội là địa phương tập trung nhiều lễ hội lớn của vùng, trong đó có những lễ hội được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia như lễ hội đền Cổ Loa, lễ hội chùa Tây Phương, lễ hội chùa Thầy… hay được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại như lễ hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc… Nhận thức được giá trị này, Hà Nội đã ban hành Kế hoạch quản lý lễ hội năm 2026, trong đó có điểm đáng chú ý là mục tiêu biến các lễ hội thuần túy thành sản phẩm công nghiệp văn hóa, khai thác du lịch văn hóa bền vững.

Không riêng Hà Nội mà nhiều tỉnh, thành phố như Phú Thọ, Ninh Bình, Huế, Đà Nẵng… cũng đang cho thấy sự chuyển dịch tư duy mạnh mẽ: từ không gian tín ngưỡng thuần túy, lễ hội dần được định hướng trở thành sản phẩm công nghiệp văn hóa đặc sắc. Theo bà Trương Uyên Ly, chuyên gia tư vấn truyền thông và văn hóa, các lễ hội truyền thống được sản sinh từ văn hóa, niềm tin và lịch sử lâu đời, nhằm gánh vác các nhiệm vụ mang tính bảo tồn, gửi gắm giá trị tinh thần và nhắc nhở về lịch sử. Các lễ hội này cho thấy một số biểu hiện của công nghiệp văn hóa, như nguồn thu từ khách du lịch, cơ hội phát triển các dịch vụ và hàng hóa có tính thời điểm liên quan đến lễ hội…

Dù vậy, đến nay hầu như lễ hội truyền thống chưa được khai thác tối ưu. Ngay cả với những tỉnh, thành phố có nguồn lực đầu tư lớn, việc biến lễ hội thành sản phẩm công nghiệp văn hóa cũng đang đối mặt với bài toán khó: Làm sao để tạo ra giá trị kinh tế mà không làm mất đi tính thiêng và bản sắc nguyên bản - vốn là cái gốc để thu hút khách? Việc đưa lễ hội truyền thống thành sản phẩm công nghiệp văn hóa, bởi vậy, là một hành trình không những đòi hỏi sự kiên trì mà phải tinh tế, dựa trên thấu hiểu hồn cốt lễ hội.

Từ “quản lý” đến “quản trị tài sản”

Từ thực tiễn triển khai dự án nghiên cứu phát triển sản phẩm công nghiệp văn hóa lễ hội Hà Nội, TS. Nguyễn Thị Quý Phương cho rằng, đã là sản phẩm văn hóa thì phải được thị trường đón nhận và phải có mục tiêu doanh thu rõ ràng. Lễ hội muốn thành một sản phẩm công nghiệp văn hóa cũng không nằm ngoài quy luật này. Nếu muốn biến lễ hội thành sản phẩm công nghiệp văn hóa, cần phân loại và quy hoạch lễ hội một cách hệ thống với các tiêu chí rõ ràng. Đó là tính phổ quát, tính hấp dẫn tự nhiên, tính độc bản và biên độ phát triển.

TS. Nguyễn Thị Quý Phương phân tích: tính phổ quát chính là điều kiện đầu tiên, có thể gọi là mức độ nổi tiếng của lễ hội và dễ được chia sẻ, được đón nhận bởi số đông bất kể khác biệt về quốc tịch, giới tính, tuổi tác, như Tết Trung thu, Tết Hàn thực, lễ hội tôn vinh những vị thần, thánh hay những anh hùng dân tộc ai cũng biết tên. Tính hấp dẫn tự nhiên là vẻ đẹp thiên nhiên, câu chuyện sâu sắc, hoạt động lôi cuốn, hay về phần lễ, vui về phần hội. Tính độc bản tạo nên giá trị độc nhất, đại diện cho cả nền văn hóa Việt Nam để trở thành một thương hiệu mạnh. Cuối cùng, biên độ phát triển là thước đo khả năng biến hóa của lễ hội thành các sản phẩm phái sinh, sản phẩm bán chéo, sản phẩm có nhiều tầng giá trị, sản phẩm được tăng giá trị qua thời gian và sản phẩm có thể được nâng cấp qua thời gian.

“Chỉ những lễ hội nào bảo đảm được 4 tiêu chí này mới nên đưa vào diện đầu tư, khai thác, để xây dựng thành sản phẩm công nghiệp văn hóa tiêu biểu”, TS. Nguyễn Thị Quý Phương nhìn nhận.

Xác định được tiềm năng và tiêu chí là bước đầu, nhưng cách thức tổ chức và vận hành mới là yếu tố quyết định. PGS. TS. Bùi Hoài Sơn, đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội dẫn chứng một loạt lễ hội lớn tại Hà Nội, như Lễ hội chùa Hương - một trong những lễ hội lớn nhất miền Bắc, thu hút hàng triệu lượt khách mỗi năm, là nguồn lực kinh tế quan trọng. Để trở thành mô hình tiêu biểu của du lịch tâm linh gắn với công nghiệp văn hóa, cần một chiến lược quy hoạch dài hạn, hạn chế tối đa những yếu tố xô bồ làm mất đi sự trang nghiêm. Hay Lễ hội đền Hai Bà Trưng (Mê Linh) để gia tăng sức hút kinh tế, cần mở rộng các hoạt động văn hóa đi kèm; Lễ hội đền Và (Sơn Tây) cần sự kết nối, gắn với các di sản xung quanh thành chuỗi sản phẩm du lịch văn hóa hoàn chỉnh… Để hiện thực hóa tầm nhìn này, yêu cầu cấp thiết là phải chuyển tư duy từ “quản lý lễ hội” sang “quản trị tài sản văn hóa”, đầu tư vào những hoạt động có chiều sâu.

“Để thực sự đưa lễ hội truyền thống trở thành một trụ cột theo Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, cần một lộ trình bài bản và đồng bộ. Theo đó, cần chuyên nghiệp hóa khâu tổ chức và quản trị. Lễ hội cần được xem như một sự kiện văn hóa có thương hiệu riêng. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà quản lý, nhà nghiên cứu văn hóa và các đơn vị làm truyền thông chuyên nghiệp. Khi những giá trị tinh thần được chuyển hóa thành nguồn lực kinh tế nội sinh, văn hóa sẽ thực sự trở thành sức mạnh thúc đẩy đất nước phát triển bền vững và khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế”, PGS. TS. Bùi Hoài Sơn nhận định.

Khôi Nguyên

Home Icon VỀ TRANG CHỦ