Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi): Đề nghị bổ sung quy định doanh nghiệp nhà nước công khai thông tin

Đề nghị bổ sung quy định doanh nghiệp nhà nước công khai thông tin tại dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).
Bộ Tư pháp đang chủ trì xây dựng dự án Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) để trình Quốc hội xem xét, thông qua trong chương trình lập pháp năm 2026. Trên cơ sở dự thảo Tờ trình và dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) ngày 09/01/2026, xin được đóng góp một số ý kiến như sau.
Thứ nhất, về chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin
Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (Luật TCTT) sửa đổi lần này chủ yếu tập trung vào việc sửa đổi một số quy định liên quan đến việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy chính quyền địa phương hai cấp.
Khi chúng ta bỏ chính quyền cấp huyện thì cần xử lý 2 vấn đề: Vừa loại bỏ thông tin trước đây cơ quan nhà nước cấp huyện sở hữu và có trách nhiệm cung cấp, vừa bổ sung loại thông tin mà cơ quan nhà nước cấp xã có trách nhiệm cung cấp theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp sau sắp xếp. Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân, dự thảo Luật cũng bước đầu nghiên cứu mở rộng từng bước và hợp lý các tổ chức, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin theo Luật này.
Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay gắn với đổi mới mô hình quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả, đặc biệt là hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới theo Hiến pháp 2013 và Nghị quyết số 27 của BCHTW Đảng khóa XIII, trong đó đã ghi nhận "Ở nước CHXHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật" (Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013), xin được có một số ý kiến về vấn đề này như sau:
Dự thảo Luật bổ sung quy định những đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếucó trách nhiệm cung cấp thông tin (ngoài cơ quan nhà nước theo quy định của Luật hiện hành). Việc bổ sung chủ thể này là phù hợp. Tuy nhiên cũng nên cân nhắc một số chủ thể khác cũng cần có trách nhiệm cung cấp thông tin, đó là:
Đối với doanh nghiệp nhà nước (DNNN). DNNN là đơn vị sử dụng vốn nhà nước (cũng có thể coi là sử dụng tiền thuế của dân) vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận và có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn.
Do vậy, về nguyên tắc, DNNN phải có trách nhiệm minh bạch việc sử dụng vốn và công khai kết quả kinh doanh của mình cho người dân biết và giám sát. Từ đó góp phần tăng tính trách nhiệm trong sử dụng vốn của các DNNN, bảo đảm quyền của người dân trong hoạt động giám sát.
Việc bổ sung đơn vị sự nghiệp công lập vào diện phải cung cấp thông tin cho người dân nhưng lại không bổ sung DNNN thì có phần khập khiễng, không hợp lý, chưa công bằng và thực sự minh bạch với người dân trong sử dụng tài chính, tài sản nhà nước.
Hiện tại, Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp số 68/2025/QH15 ngày 14/6/2025, có hiệu lực từ ngày 01/8/2025) cũng đã có những quy định về trách nhiệm của DNNN trong báo cáo và công khai thông tin về tình hình hoạt động của doanh nghiệp (Chương VII, các điều 54, 55 Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp số 68/2025/QH15 quy định về trách nhiệm của DNNN về báo cáo và công khai thông tin về hoạt động của doanh nghiệp).
Tuy nhiên, theo quy định của Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp thì chủ thể nhận được báo cáo và thông tin chỉ là cơ quan đại diện chủ sở hữu, chưa có những quy định về trách nhiệm công khai thông tin cho người dân biết về kết quả hoạt động kinh doanh của DNNN.
Từ đó chúng tôi đề nghị, Luật TCTT nên quy định bổ sung DNNN cũng là chủ thể cần công khai thông tin đến người dân.
Tuy nhiên, đối với DNNN thì thông tin cần công khai cho người dân chỉ nên khoanh lại là những thông tin về tình hình kinh doanh của mình, đặc biệt là thông tin về kết quả, hiệu quả kinh doanh trên vốn đầu tư của Nhà nước để người dân biết và giám sát hoạt động của doanh nghiệp, không cung cấp những thông tin về bí mật kinh doanh và những thông tin không cần thiết khác.
Về phương thức cung cấp thông tin cũng cần cân nhắc chỉ áp dụng phương thức công khai thông tin mà không áp dụng phương thức cung cấp thông tin theo yêu cầu, để tránh sự phiền hà cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm công khai được những thông tin cần thiết đến người dân biết và giám sát.
Đề nghị bổ sung vào Luật TCTT trách nhiệm công khai thông tin của MTTQVN và các tổ chức thành viên của Mặt trận
Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, theo quy định của Hiến pháp cũng như Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) thì "MTTQVN là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội…; là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; thể hiện ý chí, nguyện vọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội…" (Điều 9 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013).
Với tính chất và tôn chỉ, mục đích trong tổ chức và hoạt động nói trên thì MTTQVN là nơi cần phải thể hiện tính dân chủ và công khai rộng rãi nhất, điển hình nhất.
Để bảo đảm cho MTTQVN và các tổ chức thành viên của Mặt trận phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện được tôn chỉ, mục đích hoạt động của mình, thực sự là một liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện và phát huy được quyền làm chủ của Nhân dân mà trước hết là của các thành viên, hội viên của Mặt trận thì cần tiếp tục cụ thể hóa trách nhiệm công khai thông tin của Mặt trận vàcác tổ chức thành viên của Mặt trận.
Theo đó, cần bổ sung vào Luật TCTT trách nhiệm công khai thông tin của MTTQVN và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Việc bổ sung quy định trách nhiệm phải công khai thông tin của Mặt trận đến với Nhân dân vừa củng cố, nâng cao được ý thức trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức của Mặt trận trong công khai thông tin đến với người dân, vừa tạo điều kiện để các tổ chức thành viên của Mặt trận cũng như người dân thực hiện được quyền tiếp cận thông tin của mình và đóng góp vào các hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận, tạo đồng thuận xã hội, phát huy đại đoàn kết dân tộc.
UBND cấp xã chỉ có trách nhiệm cung cấp thông tin cho công dân cư trú trên địa bàn, nhưng với cấp tỉnh thì không có quy định về vấn đề này
Thứ hai, về phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin, Điều 10 dự thảo Luật quy định về phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin chưa thống nhất với phạm vi thông tin phải cung cấp. Theo khoản 1 Điều 2 thì thông tin phải cung cấp là thông tin do cơ quan, đơn vị tạo ra hoặc nắm giữ.
Tuy nhiên, Điều 10 chỉ quy định về cung cấp thông tin được tạo ra, không có thông tin được nắm giữ. Đề nghị bổ sung. Cũng có thể đây là lỗi kỹ thuật chưa rà soát, xử lý hết. Nếu không phải là lỗi kỹ thuật thì cơ quan soạn thảo cần phải giải trình rõ vấn đề này.
Về các điểm đ và e khoản 2 Điều 10 dự thảo Luật quy định:
"đ) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm phân công đầu mối cung cấp thông tin do Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tạo ra;
e) Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phân công đầu mối cung cấp cho công dân cư trú trên địa bàn thông tin do Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các cơ quan của Hội đồng nhân dân, các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc cấp mình tạo ra; cung cấp cho công dân khác thông tin này trong trường hợp liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ".
Quy định trên có 2 điểm cần làm rõ thêm:
(1) Thuật ngữ "tổ chức hành chính khác thuộc cấp mình" tại điểm e là một khái niệm chưa rõ, quy định này sẽ gây khó khăn, lúng túng trong thực hiện. Đề nghị cần quy định rõ về vấn đề này;
(2) Đối với Ủy ban nhân dân cấp xã, dự thảo Luật quy định UBND cấp xã chỉ có trách nhiệm cung cấp thông tin cho công dân cư trú trên địa bàn, nhưng đối với cấp tỉnh thì không có quy định về vấn đề này.
Vậy UBND cấp tỉnh cũng chỉ có trách nhiệm cung cấp thông tin cho công dân trên địa bàn cấp tỉnh hay cho bất kỳ ai, kể cả ngoài địa bàn hành chính cấp tỉnh? Đề nghị cần quy định rõ hơn trong dự thảo Luật về 2 điểm nói trên.
Cách tiếp cận theo quy định của Điều 17 là chưa khoa học
Thứ ba, về phạm vi thông tin công dân được tiếp cận, không được tiếp cận, được tiếp cận có điều kiệnvà thông tin phải công khai, dự thảo Luật quy định thông tin công dân được tiếp cận, thông tin công dân không được tiếp cận, thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện. Đây là cách tiếp cận theo hướng "chọn bỏ". Chúng tôi đồng tình với cách tiếp cận này, vì phù hợp với quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền và bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân hiện nay, bảo đảm sự minh bạch, dễ tiếp cận, giảm chi phí tuân thủ của người dân (Điều 14, 15, 16).
Tuy nhiên, đến Điều 17 quy định về thông tin phải được công khai lại theo logic "chọn cho". Chúng tôi cho rằng, cách tiếp cận theo quy định của Điều 17 là chưa khoa học và chắc chắn sẽ còn nhiều loại thông tin cần công khai ở rất nhiều thể loại các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập khác nhau mà chưa thể thống kê hết được. Nên chăng chúng ta tiếp cận theo phương án "chọn bỏ" như các điều 14, 15, 16.
Theo đó, chỉ quy định nguyên tắc: các cơ quan, đơn vị phải công khai tất cả các thông tin do mình tạo ra hoặc nắm giữ, trừ các thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật ngành, bí mật của cơ quan, đơn vị theo quy định của pháp luật. Đồng thời quy định trách nhiệm trước hết của mỗi cơ quan, đơn vị là phải ban hành công khai Danh mục các thông tin phải công khai cho người dân biết – đây phải là thông tin trước nhất và quan trọng nhất cần phải công khai trong trách nhiệm công khai thông tin của các chủ thể có trách nhiệm theo Luật này.
Thủ tục cung cấp thông tin theo yêu cầu cần rà soát thêm, bảo đảm thuận tiện và khả thi nhất cho người dân
Thứ tư, về cung cấp thông tin theo yêu cầu: Hình thức, trình tự, thủ tục cung cấp thông tin theo yêu cầu cần rà soát thêm, bảo đảm thuận tiện và khả thi nhất cho người dân. Đặc biệt cần phù hợp với khả năng tiếp cận của người dân, tránh trường hợp người dân yêu cầu cung cấp thông tin đơn giản nhưng trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu còn rườm rà hoặc không phù hợp dẫn đến khó tiếp cận, chi phí cao, khó khả thi. Ví dụ:
- Khoản 1 Điều 26 dự thảo Luật quy định: "Người yêu cầu cung cấp thông tin phải nộp Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin,trừ trường hợp yêu cầu cung cấp thông tin theo điểm a khoản 1 Điều 23 của Luật này". Tức là trừthông tin thuộc diện phải công khai đang trong thời hạn công khai nhưng chưa được công khai.
Để giảm thủ tục phiền hà cho người dân, chúng tôi đề nghị cân nhắc quy định theo hướng tất cả những thông tin phải được công khai theo quy định tại Điều 17 của Luật này, nhưng thuộc tất cả các trường hợp của khoản 1 Điều 23 thì không cần phải lập và nộp Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin; những trường hợp còn lại thì phải nộp Phiếu yêu cầu.
- Hoặc quy định tại khoản 2 Điều 26: Cơ quan, đơn vịcó trách nhiệm:"Tiếp nhận, hướng dẫn người yêu cầu điền Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin, kiểm tra tính hợp lệ của Phiếu yêu cầu cung cấp thông tinvà vào Sổ theo dõi cung cấp thông tin theo yêu cầuthông qua hệ thống phần mềm quản lý yêu cầu trực tuyến".Quy định này đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, dịch vụ công điện tử, tuy nhiên, có thể chưa đáp ứng sự thuận tiện cho người dân, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa chưa thể thực hiện được yêu cầu trên các nền tảng trực tuyến.
Do vậy, nên cân nhắc cơ quan, đơn vị có thể tiếp nhận, hướng dẫn người dân lập Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin bằng trực tuyến hoặc trực tiếp đối với những nơi, những người chưa thể thực hiện yêu cầu bằng phiếu trực tuyến.
Còn thiếu những quy định về trách nhiệm, chế tài đối với các cơ quan, đơn vị khi không thực hiện đúng về tiếp cận thông tin
Thứ năm, về các biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, đây lànội dung rất quan trọng, thể hiện tính khả thi của Luật, bảo đảm Luật có đem lại những giá trị đích thực cho người dân hay không. Dự thảo Luật đã bổ sung nhiều quy định về các các biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin như bố trí cán bộ đầu mối về cung cấp thông tin, đầu tư cơ sở vật chất, thực hiện việc phân loại, lưu trữ và cập nhật thông tin, số hóa tài liệu, đa dạng hóa các hình thức cung cấp, công khai thông tin… đồng thời giao Chính phủ quy định cụ thể các biện pháp để bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin.
Tuy nhiên chúng tôi vẫn cảm thấy còn thiếu hụt những quy định về trách nhiệm, chế tài đối với các cơ quan, đơn vị khi không thực hiện đúng hoặc vi phạm các quy định về tiếp cận thông tin của Luật này. Nếu chúng ta có Luật nhưng thiếu các quy định về trách nhiệm và chế tài pháp lý hoặc thực hiện không nghiêm trong tổ chức thi hành Luật thì quyền tiếp cận thông tin của người dân sẽ chỉ "nằm trên giấy". Đây là vấn đề nên cân nhắc bổ sung vào Luật để tăng tính trách nhiệm cũng như tính răn đe. Trường hợp không bổ sung vào Luật thì cần hết sức lưu ý khi ban hành Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này, bảo đảm rõ trách nhiệm, gắn với chế tài mạnh mẽ, xử lý kiên quyết và nghiêm minh đối với các trường hợp vi phạm các quy định của Luật.
Thứ sáu, về kỹ thuật lập pháp, xin có một số ý kiến góp ý như sau:
Thứ nhất, về giải thích từ ngữ: dự thảo luật có một số từ ngữ có tính khái niệm như: dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu; đời sống riêng tư; bí mật cá nhân; bí mật gia đình; thông tin liên quan đến đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh … đây là những khái niệm cần được giải thích, tránh gây lúng túng hoặc cách hiểu, vận dụng khác nhau trong thực tiễn thi hành.
Do vậy, đề nghị Ban soạn thảo cần rà soát các luật liên quan, nếu các thuật ngữ này chưa được giải thích cụ thể ở các luật chuyên ngành liên quan thì cần bổ sung giải thích những thuật ngữ nói trên trong Luật này.
Thứ hai, khoản 2 Điều 3 về nguyên tắc bảo đảm tiếp cận thông tin quy định: "Thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ". Đề nghị bổ sung cụm từ kịp thời để bảo đảm tương thích với điểm a khoản 1 Điều 8 về quyền tiếp cận thông tin của người dân: "chính xác, đầy đủ, kịp thời".
Thứ ba, Điều 15 về thông tin công dân không được tiếp cận, tại khoản 6 quy định: "Thông tin về cuộc họp nội bộ của cơ quan, đơn vị; tài liệu do cơ quan, đơn vị soạn thảo cho công việc nội bộ". Đây là vấn đề thực tiễn còn thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, nhiều trường hợp còn lẫn lộn với các tài liệu, thông tin thuộc danh mục bí mật. Từ đó xin đề nghị bổ sung vào cuối quy định trên cụm từ "có đóng dấu "lưu hành nội bộ" hoặc "chỉ sử dụng nội bộ" để chuẩn hóa loại tài liệu, thông tin này trong thực tiễn, bảo đảm sự rõ ràng, minh bạch, tránh nhầm lẫn và phát sinh trách nhiệm pháp lý, tạo ra những tranh chấp không đáng có./.
PGS.TS Đinh Dũng Sỹ
Chuyên gia pháp luật
3 giờ trước
17 giờ trước
1 giờ trước
8 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước