🔍
Chuyên mục: Giáo dục

Dự kiến tăng mức trợ cấp cho học sinh, sinh viên theo mức lương cơ sở

8 phút trước
Nghị định mới cụ thể hóa quy định của Luật Giáo dục và Luật Giáo dục nghề nghiệp về chính sách trợ cấp, chính sách nội trú đối với người học.

Bộ Tư pháp vừa công bố hồ sơ thẩm định Dự thảo Nghị định quy định về chính sách trợ cấp và chính sách nội trú đối với người học trong cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Dự thảo Nghị định do Bộ GD&ĐT chủ trì soạn thảo.

Dự kiến mức hỗ trợ cho học sinh, sinh viên sẽ được tính theo tỷ lệ lương cơ sở. Ảnh: Chinhphu.vn

Mở rộng diện hỗ trợ

Hiện nay, Chính phủ có nhiều chính sách trợ cấp, hỗ trợ người học thuộc diện chính sách, người dân tộc thiểu số, người học thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và người học trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Tuy nhiên, hệ thống quy định hình thành qua nhiều thời kỳ, phân tán tại nhiều quyết định, phạm vi điều chỉnh và thuật ngữ không còn đồng bộ với Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học và Luật Giáo dục nghề nghiệp mới.

Về mức hưởng trợ cấp và thời gian hưởng trợ cấp cũng bộc lộ bất cập. Mức trợ cấp xã hội 100.000 đồng/người/tháng áp dụng từ năm 1997, mức 140.000 đồng/người/tháng áp dụng từ năm 2001 và các khoản hỗ trợ nội trú áp dụng từ năm 2015 không còn phù hợp với mặt bằng chi phí học tập, sinh hoạt và đi lại hiện nay…

Do đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng Nghị định mới nhằm cụ thể hóa quy định của Luật Giáo dục và Luật Giáo dục nghề nghiệp về chính sách trợ cấp, chính sách nội trú đối với người học.

Theo dự thảo Nghị định, mức hưởng trợ cấp được xác định theo tỷ lệ mức lương cơ sở để bảo đảm ổn định, thống nhất và thuận lợi trong tổ chức thực hiện.

Cụ thể, người học thuộc một trong các nhóm đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định này được hưởng mức trợ cấp bằng 80% mức lương cơ sở. Người học đồng thời thuộc từ 02 nhóm đối tượng trở lên quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định này được hưởng mức trợ cấp bằng 100% mức lương cơ sở.

Về chính sách nội trú, mức học bổng, hỗ trợ cũng được tính theo tỷ lệ mức lương cơ sở như hỗ trợ mua đồ dùng cá nhân một lần cho toàn khóa học bằng 60% mức lương cơ sở/người/khóa học; hỗ trợ trong dịp Tết Nguyên đán bằng 10% mức lương cơ sở/người/lần đối với người học ở lại trường trong dịp Tết Nguyên đán…

Dự thảo cũng quy định ba mức học bổng chính sách tương ứng với từng nhóm đối tượng theo tỷ lệ 100 – 80% - 60%.

Ngoài ra, chính sách trợ cấp được thực hiện 12 tháng trong một năm học, bao gồm thời gian nghỉ theo kế hoạch đào tạo; không tính thời gian người học tạm dừng học, bị đình chỉ học tập hoặc vượt quá thời gian đào tạo chuẩn.

Đối với chương trình đào tạo theo tín chỉ, mô-đun, số tháng hưởng học bổng chính sách nội trú được quy đổi theo số tín chỉ của các môn học, mô đun người học đã tham gia học tập và được cơ sở giáo dục xác nhận trong năm học so với tổng số tín chỉ bình quân của một năm học theo tiến độ của chương trình đào tạo.

Dự thảo cũng thống nhất nguyên tắc không hưởng trùng chính sách có cùng mục tiêu, nội dung chi và thời gian hỗ trợ; quy định rõ trường hợp người học đồng thời thuộc diện hưởng trợ cấp và nội trú.

Theo đó, trường hợp người học đồng thời thuộc diện hưởng nhiều chính sách của Nhà nước có cùng mục tiêu, cùng nội dung chi và cùng thời gian hỗ trợ thì chỉ được hưởng một chính sách có mức hỗ trợ cao nhất, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Dự thảo bổ sung người học chương trình giáo dục trung học nghề vào phạm vi chính sách phù hợp với Luật Giáo dục nghề nghiệp. Quy định nộp hồ sơ một lần trong khóa học, cập nhật khi thông tin hết hiệu lực hoặc thay đổi; khai thác dữ liệu quốc gia, dữ liệu chuyên ngành và không yêu cầu nộp lại giấy tờ đã có…

Giải trình về cơ sở mức hỗ trợ

Quá trình lấy ý kiến góp ý dự thảo luật, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội đề nghị làm rõ cơ sở phân loại 3 mức học bổng tương ứng với từng nhóm đối tượng; đánh giá mức độ phù hợp với điều kiện sinh hoạt thực tế của người học hiện nay.

Giải trình về vấn đề này, Bộ GD&ĐT cho biết việc quy định ba mức học bổng chính sách được xây dựng trên cơ sở kế thừa cơ cấu mức hưởng trước đây, đồng thời phân loại theo mức độ khó khăn và số yếu tố bất lợi mà người học phải đối mặt.

Khoảng cách 20 điểm phần trăm giữa các mức 100%, 80% và 60% nhằm tạo sự phân tầng hợp lý, phản ánh tương đối mức độ khó khăn giữa các nhóm đối tượng, đồng thời bảo đảm mức chênh lệch không quá lớn, tránh tạo bất bình đẳng trong thụ hưởng chính sách.

Việc phân loại không nhằm xác định giá trị tuyệt đối của từng hoàn cảnh khó khăn mà để ưu tiên mức hỗ trợ cao hơn đối với nhóm chịu nhiều yếu tố bất lợi hơn.

Bùi Trang

TIN LIÊN QUAN



















Home Icon VỀ TRANG CHỦ