Dòng nước gọi mùa

Cây nêu được trang trí rất kỹ lưỡng trước khi vào lễ cúng. Ảnh: THIỆN GIANG
Ở nơi ấy, thời gian dường như không vội vã trôi đi như dưới xuôi kia. Mọi thứ cứ chầm chậm, chầm chậm như những hạt mưa mắc lại trên mái nhà sàn rồi rỉ rả lăn xuống, như khói bếp. Và như cả cái cách người làng chuẩn bị và chờ đợi nghi lễ đã có từ lâu, rất lâu rồi: lễ cúng máng nước.
Dựng nêu giữa ngày mưa
Đã vào tháng Ba, nhưng mưa vẫn rả rích giăng mắc núi đồi. Khoảng sân nhà cộng đồng chật kín người. Chị Hồ Thị Huệ, trưởng thôn 4 (xã Trà Tập) gọi nhóm thanh niên trong làng C72 tìm chặt lồ ô về làm cây nêu.
Ở xứ núi này, khoảnh khắc giao mùa đẹp mà cũng “khó chịu” vô cùng, bởi mưa nắng thất thường, nóng lạnh đan xen. Rừng lồ ô sau làng như liêu xiêu, rạp xuống trong mưa lạnh.
“Kiếm cho ra cây lồ ô thẳng tắp làm ngọn nêu khó lắm. Mình phải tìm cây suôn nhất, mang về để héo rồi duỗi lại cho thẳng, làm nêu mới đẹp, mới cao được”, chị Huệ nói, rồi bươn bả cùng mấy trai làng men lối mòn lên ngọn núi sau làng.
Hồi lâu, đoàn người vác về ba cây lồ ô để già làng lựa chọn làm nêu, cùng mớ lá trang trí cổng. Tốp tiếp theo lại ôm về những bó lồ ô nhỏ hơn. Họ nói, thân lồ ô nhỏ dùng để làm máng nước dẫn từ nguồn về chân cây nêu.
Cúng máng nước, có hai việc quan trọng phải chuẩn bị chu đáo và thật sớm: cây nêu và máng nước. Phần vì đây là hai bộ phận chính để đón nguồn nước, phần vì làm khá mất thời gian, đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo.
Dưới mái nhà cộng đồng, anh Hồ Văn Diếp cùng mấy người đàn ông ngồi quây lại, đục đẽo từng thân lồ ô, khoét bỏ mắt, nối lại thành một đường dài. Dòng nước từ trên nguồn cách đó chừng hai trăm mét, sẽ tốn khoảng 40 thân cây lồ ô để dẫn về tận chân cây nêu.

Một nghi thức trong lễ cúng máng nước để cầu bình an, cầu may mắn, mạnh khỏe. Ảnh: THIỆN GIANG
“Trong ngày mai phải làm cho xong cây nêu, chú ý làm con đại bàng cho đẹp, rồi đếm chum ché, rượu cần, thổ cẩm. Đội trống chiêng nhớ tập lại cho đều, cho chắc nhịp”, chị Huệ đứng giữa vòng người, tiếp tục dặn dò.
Có một thứ “uy tín” thật tự nhiên trong cách chị nói, mà không ai cần phải hỏi lại. Chúng tôi nhìn quanh, thấy những cái gật đầu, ánh mắt lặng lẽ đồng thuận. Ở nơi này, sự gắn kết hiện diện trong cách người ta cùng nhau làm một việc, cùng nhau chờ một điều gì đó sẽ đến. Không cần ai lên tiếng biện giải.
Chị Huệ nói, năm nay là năm đầu tiên làng tổ chức lễ lớn như vậy. Mưa cứ kéo dài, người nữ trưởng thôn 4 khá lo lắng. Lo cho đường sá trơn trượt, lo cho người các thôn đến dự vất vả, lo cả cho nghi lễ không được trọn vẹn.
Nhưng rồi chị lại cười, rất nhanh. “Mưa thì mưa, lễ vẫn phải làm cho bài bản”. Phảng phất sự kiên định rất riêng mà chúng tôi đã nghe, đã cảm ở chị từ khi hiện diện trong ngôi làng này. Người ở núi, hình như họ đã quen với việc chấp nhận với những khắc nghiệt của thiên nhiên. Họ luôn lặng lẽ thích nghi, làm cho trọn phần việc của mình, bằng mọi cách.

Ông già làng và bà già làng cùng lên nơi nguồn nước, làm lễ cúng cho cả làng. Ảnh: THIỆN GIANG
Nước chảy từ lòng núi
Ngày cúng máng nước, mưa vẫn tiếp tục nặng hạt. Sáng sớm, dân các thôn tề tựu đông đủ, tuy có phần bất tiện do mưa. Chưa năm nào làng C72 náo nhiệt như năm nay.
Qua trưa, khi các trò chơi dần đi đến hồi kết, cây nêu mới sừng sững dựng lên góc sân nhà cộng đồng.
Trên đó, người ta vẽ đủ họa tiết, treo lủng lẳng những xâu hạt cườm, cánh chim, ba lá cờ Tổ quốc phấp phới trên ngọn, và một chim đại bàng đan bằng sợi lồ ô.
“Chim đại bàng tượng trưng cho may mắn. Ông bà ngày xưa kể, mỗi khi dân làng làm lễ cúng máng nước, đều có chim đại bàng bay từ núi Kiếp Cang về dự, chứng kiến. Họ nói là thần núi hóa thành chim để về ban phước cho dân làng. Sau này không thấy chim về nữa, bà con mới làm mô hình để tượng trưng cho chim, bày tỏ lòng thành với thần rừng, thần núi”, chị Huệ giải thích cặn kẽ, rồi ra hiệu cho già làng bắt đầu lễ cúng.
Chúng tôi nhìn lên dãy núi Kiếp Cang phía xa, đang nhòe mờ trong mưa. Không biết những câu chuyện ấy còn lại bao nhiêu phần là thực. Nhưng rõ ràng, ký ức, và cả niềm tin của người làng về những huyền linh của rừng vẫn sống.
Mưa đang ngớt dần. Hai đĩa trầu cau têm hình sừng trâu, và một đĩa thuốc lá khô đặt ngay ngắn dưới thân nêu. Già làng Hồ Văn Biến tay phải cầm rựa, tay trái cầm ngọn lau, mắt nhìn thẳng lên ngọn nêu khẽ khấn vái, rồi chỉ người mang trầu cau đi mời khách.
Đâu vào đó, ông lại dẫn đầu một đoàn người khiêng theo heo đen lên nơi nguồn nước. Con suối nhỏ nằm nép mình bên vách đá, nước trong và lạnh. Nước đọng lại sau một con đập nhỏ được đắp lên từ trước.
Không gian ở đó tách biệt hẳn với phía dưới. Tĩnh lặng. Chỉ còn tiếng nước chảy, tiếng lá rừng thi thoảng xào xạc theo gió.
Trong đám người đi cúng thần, ngoài già làng, còn có hai thanh niên đầu quấn khăn đỏ, mà theo chị Huệ, là tượng trưng cho những bông hoa, thu hút thần về nghe lời cầu khấn.
Già làng đọc những câu khấn của người Xơ Đăng, mời thần về và cầu mong sức khỏe, may mắn cho dân làng. Giọng già đều và trầm. Những lời khấn bằng tiếng Xơ Đăng vang lên. Chúng tôi không hiểu hết, song vẫn cảm nhận được sự thành kính trong từng lời rầm rì của già làng.
Chị Huệ, cùng chị Hồ Thị Vệ - em gái chị cũng đứng đó. Thi thoảng họ bước lên ngang hàng già làng, làm mấy động tác cầu mong sức khỏe.
Theo lệnh già làng, thanh niên thịt heo, lấy tiết heo nhuộm đỏ vũng nước, rồi dẫn nước chảy về theo những ống lồ ô. Tiếng hú lớn vang lên từ nguồn. Dưới cây nêu, phụ nữ cầm sẵn ống lồ ô để đón “lộc”.
Chúng tôi đứng đó, nhìn dòng nước chảy qua từng đoạn ống. Nước đã chảy. Hành trình của dòng nước không chỉ là từ nguồn về làng. Nó đi qua từng bàn tay, từng công đoạn, từng niềm tin. Nó là kết quả của một quá trình mà mỗi người làng đều góp một phần nhỏ của mình vào đó.
Khi đoàn người trở về, mưa đã dứt hẳn. Khoảng sân dần khô ráo, để lộ những dấu chân. Tiếng cồng chiêng vang lên, loang ra giữa núi rừng. Nhịp chiêng như kéo chân người vào hội.
Chị Huệ cầm trống, nụ cười rạng rỡ. Sau chị, đội chiêng và nhóm múa bắt đầu nhịp điệu quen thuộc. Một đứa trẻ trong bộ váy thổ cẩm nhảy theo. Chắc lũ trẻ không cần ai phải dạy chúng nhảy, chúng hát. Chúng chỉ cần sống, hòa mình vào niềm vui đó, đắm trong cái không khí thần tiên của lễ hội từ đồng bào mình.

Chị Hồ Thị Huệ đeo trống, cùng lũ làng hòa vào hội. Ảnh: THIỆN GIANG
Sẽ chẳng có công thức chung nào cho lễ hội. Ở đây cũng vậy. Sự hiện diện của những người đàn bà từ suốt quá trình diễn ra lễ cúng máng nước là một điều khác biệt, nếu đặt vào bối cảnh, quy ước, cách thức tổ chức những lễ hội khác của người miền núi phía tây xứ Quảng. Còn ở đây, đó là sự cân bằng tuyệt diệu.
“Lúc cúng ở nguồn nước, bà già làng cầu xin cho con cháu, gia đình có thóc đầy bồ, chăn nuôi phát triển, cuộc sống ấm no. Còn già làng đại diện cho cộng đồng đứng ra khấn nguyện cho toàn thể dân làng làm ăn phát đạt, con cháu đi làm ăn xa gặp nhiều may mắn, không gặp điều xui rủi, dù đi đâu cũng luôn nhớ về nguồn cội”, chị Huệ giải thích.
Một người đứng cạnh chúng tôi nói nhỏ, mấy năm nay, cứ đến lúc làm lễ là trời lại tạnh. Không biết đó có phải sự trùng hợp hay không, nhưng nhìn lên khoảng trời vừa hửng sáng, thấy dòng nước đã chảy đều dưới chân nêu, chúng tôi nhận ra những gì người làng chờ đợi không phải là cơn mưa dứt.
Mà là lúc này đây, khi nước dần chảy qua ống lồ ô từ nguồn về đến làng. Mọi thứ liền lạc, như vòng tròn người đang rộn ràng với trống chiêng ngoài kia. Một sự liền lạc giữa rừng với người, giữa thế hệ trước với lớp người hôm nay. Một mạch nguồn tiếp nối…
Ghi chép của THÀNH CÔNG - THIỆN TÙNG
35 phút trước
8 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
14 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước