🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Dòng họ Lưu làng Nguyệt Áng - dấu ấn khoa bảng bên dòng sông Nhuệ

1 giờ trước
Nằm bên dòng Sông Nhuệ hiền hòa, làng Nguyệt Áng, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội (trước đây thuộc xã Đại Áng, huyện Thanh Trì) từ lâu được biết đến như một vùng đất hiếu học tiêu biểu của Thủ đô. Trong mạch nguồn văn hiến ấy, dòng họ Lưu được ghi nhận với nhiều dấu ấn qua những nhân vật đỗ đạt, cùng hệ thống từ đường và di tích vẫn hiện diện giữa không gian văn hóa làng quê ven sông.

Từ vùng đất chiêm trũng đến truyền thống khoa bảng

Làng Nguyệt Áng còn có tên gọi Kẻ Nguyệt, là nơi sinh sống quần tụ của 13 dòng họ: Bùi, Lê, Lưu, Trần và 9 dòng họ Nguyễn với tên đệm là Danh, Đình, Xuân, Trọng... Nhờ thế đất đắc địa vượng cát về phong phong thủy, các dòng họ đều phát triển, trong đó ba dòng họ nổi tiếng và phát đạt nhất là họ Nguyễn Đình, họ Lưu và Nguyễn Danh.

Không gian Đình – Văn Chỉ Nguyệt Áng, nơi thờ Thành hoàng làng Công Ba Đại Vương, Khổng Tử cùng các bậc tiên hiền, khoa bảng của địa phương. Ảnh: PV

Dòng họ Lưu ở Nguyệt Áng có nguồn gốc từ rất lâu, theo những tài liệu còn giữ được, tổ tiên dòng họ di cư về vùng đất này lập nghiệp từ năm 1573, niên hiệu Gia Thái thời Hậu Lê. Qua nhiều thế hệ sinh cơ lập nghiệp, họ Lưu dần trở thành một trong những gia tộc lớn của làng, gắn bó mật thiết với lịch sử hình thành và phát triển của cộng đồng cư dân nơi đây.

Nguyệt Áng vốn là vùng chiêm trũng của châu thổ Bắc Bộ. Mỗi mùa mưa lũ, nước từ nhiều nơi dồn về khiến sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn. Nhưng chính hoàn cảnh ấy đã hun đúc ý chí vượt khó và tinh thần hiếu học của người dân. Từ nhiều thế kỷ trước, con đường khoa cử được xem là lối mở để thay đổi thân phận và mang lại danh tiếng cho quê hương. Trong truyền thống ấy, họ Lưu sớm khẳng định vị thế bằng nhiều thế hệ con cháu đỗ đạt và ra làm quan trong triều đình phong kiến.

Gia phả dòng họ ghi chép, con cháu họ Lưu nhiều đời nối nhau đảm nhiệm các chức vụ từ Cửu phẩm đến Tam phẩm trong bộ máy triều đình, từng giữ những vị trí quan trọng như Hiệp trấn Lạng Sơn, Đốc trấn Cao Bằng hay Án sát sứ Hải Dương. Trước năm 1945, dòng họ này còn sở hữu quỹ điền sản khá lớn, trong đó có hàng chục mẫu hậu điền dành riêng cho việc chăm lo từ đường và các hoạt động chung của tộc họ. Nhờ vậy, truyền thống gia tộc được duy trì bền vững qua nhiều thế hệ.

Sự hưng thịnh của họ Lưu còn gắn với những câu chuyện dân gian được truyền lại trong ký ức cộng đồng. Trong đó có giai thoại về huyệt đất “Giáp trúc mai hoa” ở vùng Đầm Cày - nơi được cho là hội tụ linh khí của đất trời. Sau khi một vị tổ mẫu của dòng họ được an táng tại đây theo sự chỉ dẫn của nhà phong thủy La Lâm, con cháu họ Lưu liên tiếp đỗ đạt và thành danh. Dù mang màu sắc truyền thuyết, câu chuyện ấy vẫn được xem như một phần ký ức văn hóa gắn với lịch sử phát triển của dòng họ.

Nhà thờ "Mão Kim từ đường" được xây dựng vào năm 1938. Ảnh: TH

Dấu ấn khoa bảng của dòng họ Lưu cũng được ghi nhận tại Văn chỉ làng Nguyệt Áng - thiết chế thờ Khổng Tử và tôn vinh các bậc hiền tài của làng. Tại đây hiện còn tấm bia đá hoa cương dựng năm 1876 ghi danh những người đỗ đạt của địa phương. Theo nội dung bia, trong số các bậc hiền tài được khắc tên, dòng họ Lưu chiếm số lượng đáng kể với 3 vị Tiến sĩ, 29 vị Hương cống (Cử nhân) và 11 vị Sinh đồ (Tú tài).

Các vị đại khoa của dòng họ như Lưu Tiệp, Lưu Định và Lưu Quỹ đều được lập bài vị thờ tại Văn chỉ. Việc được ghi danh và thờ phụng trong không gian tôn vinh hiền tài của làng cho thấy sự ghi nhận của cộng đồng đối với đóng góp của các thế hệ trí thức họ Lưu trong đời sống học thuật và quan trường xưa.

Những chứng tích văn hiến bên dòng sông Nhuệ

Cùng với truyền thống khoa bảng, dòng họ Lưu ở Nguyệt Áng còn lưu giữ hệ thống di tích từ đường có giá trị. Họ Lưu là một trong hai dòng họ ở làng Nguyệt Áng có nhà thờ: Nhà thờ Trạng nguyên Nguyễn Quốc Trinh (Trạng nguyên từ), Nhà thờ họ Lưu (Mão Kim từ đường) và Nhà thờ Tiến sĩ Lưu Quỹ.

Mão Kim từ đường - công trình được xây dựng vào năm 1938 với kiến trúc kiểu lăng thờ độc đáo. Tên gọi “Mão Kim” xuất phát từ lối chơi chữ chiết tự của các bậc tiền nhân dòng họ Lưu. Trong Hán tự, chữ Lưu (劉) được cấu thành từ các bộ phận Mão (卯), Kim (金) và Đao (刂). Vì vậy, việc lấy hai thành phần “Mão” và “Kim” để đặt tên từ đường được xem như một cách biểu đạt ẩn dụ, khẳng định danh tính dòng tộc.

Không gian nhà thờ Tiến sĩ Lưu Quỹ với những câu đối được viết theo lối Lệ thư. Ảnh: TH

Bộ bài vị và di ảnh thờ vợ chồng cụ Nguyễn Trọng Hợp tại nhà thờ Tiến sĩ Lưu Quỹ. Ảnh: TH

Cách đặt tên này không chỉ thể hiện sự am tường Hán học của một gia đình khoa bảng mà còn khiến ngôi từ đường mang dấu ấn văn hóa riêng biệt. Bên trong khuôn viên từ đường, dòng họ vẫn gìn giữ tấm bia đá “Lưu Tộc bi ký” do Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Cốc soạn và dựng năm 1938, ghi chép về gốc tích từ vùng Bành Thành về Nguyệt Áng lập nghiệp từ niên hiệu Gia Thái (1573) cùng sự thành đạt của cả năm chi họ qua các thời kỳ lịch sử.

Cùng với Mão Kim từ đường, nhà thờ Tiến sĩ Lưu Quỹ cũng là một công trình tiêu biểu của dòng họ tại Nguyệt Áng. Nếp nhà ba gian cổ kính này gắn với nhiều câu chuyện lịch sử về truyền thống hiếu học và tinh thần trọng nghĩa của gia tộc. Tương truyền, sinh thời Tiến sĩ Lưu Quỹ từng sống tại Kinh đô Huế. Sau khi ông qua đời, con rể là Thái tử Thái bảo Nguyễn Trọng Hợp đã cho vận chuyển ngôi nhà gỗ của cụ từ Huế về quê nhà Nguyệt Áng để dựng làm nhà thờ vào năm 1877.

Tiến sĩ Lưu Quỹ (sinh năm 1811, đỗ Tiến sĩ năm 1835) vốn nổi tiếng thanh liêm và thẳng thắn. Năm 1841, ông từng dâng lên vua Thiệu Trị bản sớ mười điều bàn về việc trị nước, trong đó nhấn mạnh tư tưởng “lấy dân làm gốc”, khuyến nghị triều đình lắng nghe lời can gián và thận trọng trong việc dùng người. Những quan điểm ấy thể hiện khí tiết của một bậc sĩ phu luôn đặt lợi ích của đất nước và nhân dân lên hàng đầu.

Trong số những nhân vật tiêu biểu của dòng họ còn có Tiến sĩ Lưu Tiệp. Khi triều đại Lê suy tàn, ông không ra làm quan mà trở về quê mở lớp dạy học, sau đó, tiếp tục truyền bá tri thức tại vùng Thanh Quan (nay thuộc Thái Bình). Ông được xem như biểu hiện của khí tiết và lòng trung nghĩa của tầng lớp sĩ phu trong giai đoạn lịch sử nhiều biến động.

Con cháu dòng họ Lưu dâng hương và tri ân trước lăng mộ Tiến sĩ Lưu Quỹ tại quê nhà Nguyệt Áng. Ảnh: PV

Dòng họ Lưu ở Nguyệt Áng cũng có mối liên hệ đặc biệt với nữ sĩ nổi tiếng trong lịch sử văn học Việt Nam là Bà Huyện Thanh Quan. Bà là phu nhân của Cử nhân Lưu Nguyên Ôn, một người con của dòng họ. Trong không gian văn hóa của một gia đình khoa bảng, nữ sĩ đã để lại những vần thơ Đường luật đặc sắc, tiêu biểu như bài “Qua Đèo Ngang”, góp phần tạo nên dấu ấn riêng trong lịch sử thi ca dân tộc. Tương truyền, bà cùng dòng họ góp công giúp dân làng Nghi Tàm thoát khỏi lệ cống nộp chim sâm cầm cho triều đình - một câu chuyện vẫn được lưu truyền trong ký ức dân gian, thể hiện tinh thần nhân nghĩa của những trí thức gắn bó với cộng đồng.

Trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, con cháu họ Lưu nay sinh sống, làm việc ở nhiều nơi nhưng nếp hiếu học của dòng tộc vẫn được gìn giữ. Mỗi dịp giỗ tổ, lễ tết, con cháu lại trở về từ đường ở làng Nguyệt Áng để tưởng nhớ tổ tiên. Bên dòng Sông Nhuệ, những từ đường và di tích của họ Lưu vẫn hiện diện như dấu tích của truyền thống khoa bảng một thời ở vùng đất ven đô Hà Nội.

Thảo Hương

TIN LIÊN QUAN





















Home Icon VỀ TRANG CHỦ