Doanh nghiệp nhà nước - trụ đỡ vốn hóa của thị trường chứng khoán

Khối doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn hóa thị trường, tập trung ở các ngành nền tảng như ngân hàng, năng lượng và hạ tầng
Trong tiến trình phát triển của nền kinh tế Việt Nam, khu vực doanh nghiệp nhà nước luôn được xác định là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò dẫn dắt và điều tiết các ngành, lĩnh vực trọng yếu. Bước vào giai đoạn phát triển mới, với mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, khu vực doanh nghiệp nhà nước được kỳ vọng không chỉ duy trì vị trí chủ lực, mà còn tiên phong trong đổi mới sáng tạo, cải cách quản trị và tái cơ cấu nguồn vốn.
Từ cổ phần hóa đại trà đến tập trung doanh nghiệp quy mô lớn
Tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước bắt đầu từ đầu những năm 1990 và đạt cao điểm về số lượng trong giai đoạn 2001-2005 với 2.735 doanh nghiệp được chuyển đổi. Tính từ năm 1992 đến nay, hơn 4.500 doanh nghiệp đã hoàn tất cổ phần hóa. Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp được chuyển đổi giảm dần theo thời gian: 646 doanh nghiệp giai đoạn 2006-2010; 508 doanh nghiệp giai đoạn 2011-2015; 180 doanh nghiệp giai đoạn 2016-2020 và chỉ 5 doanh nghiệp trong giai đoạn 2021-2023.
Điểm đáng chú ý là nếu xét về giá trị, giai đoạn 2011-2015 lại đạt mức cao nhất, khoảng 761.861.988 triệu đồng; giai đoạn 2016-2020 đạt khoảng 489.690.707 triệu đồng, cao hơn đáng kể so với các giai đoạn trước. Sự lệch pha giữa số lượng và giá trị cho thấy trọng tâm cổ phần hóa đã dịch chuyển từ xử lý diện rộng sang tập trung vào các doanh nghiệp quy mô lớn, có tài sản và phần vốn nhà nước đáng kể.
Thay vì thu hẹp vai trò, Nhà nước chuyển từ sở hữu trực tiếp nhiều doanh nghiệp nhỏ sang nắm giữ cổ phần chi phối tại các tập đoàn, tổng công ty có vai trò hệ thống trong các ngành nền tảng. Chính nhóm doanh nghiệp này hiện diện nổi bật trên thị trường chứng khoán.
Hiện diện đậm nét trên thị trường vốn
Sau cổ phần hóa, nhiều doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối đã niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên HoSE, HNX và UPCoM. Việc đại chúng hóa buộc doanh nghiệp tuân thủ chuẩn mực công bố thông tin, chịu giám sát của nhà đầu tư và vận hành theo kỷ luật thị trường.
Trong lĩnh vực ngân hàng, trụ cột của hệ thống tài chính là các ngân hàng có vốn nhà nước chi phối, chiếm tỷ trọng lớn về tài sản và vốn hóa. Đầu tháng 2/2026, Vietcombank tiệm cận mốc 600.000 tỷ đồng vốn hóa, duy trì vị thế ngân hàng có giá trị thị trường lớn nhất Việt Nam. BIDV đạt khoảng 330.000 tỷ đồng và VietinBank đạt khoảng 219.000 tỷ đồng.
Ở các lĩnh vực then chốt khác, PV GAS có vốn hóa trên 240.000 tỷ đồng; Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam trên 150.000 tỷ đồng; Vinamilk dao động quanh 140.000 - 148.000 tỷ đồng. Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam đạt giá trị thị trường trên 190.000 - 216.000 tỷ đồng và nằm trong nhóm lớn nhất trên UPCoM.
Những con số này cho thấy khu vực doanh nghiệp nhà nước không chỉ giữ vai trò quản lý nguồn lực mà còn là trụ đỡ vốn hóa của thị trường chứng khoán. Nhiều cổ phiếu thuộc nhóm này nằm trong rổ VN30, có ảnh hưởng trực tiếp đến diễn biến VN-Index, đặc biệt trong các giai đoạn thị trường biến động mạnh.
Vai trò nền tảng và yêu cầu quản trị mới
Đặc trưng của khối doanh nghiệp nhà nước là tập trung ở các ngành có tính hạ tầng và nền tảng cao như ngân hàng, năng lượng, tài nguyên, cao su, khu công nghiệp và hàng không - những lĩnh vực có quy mô tài sản lớn, chu kỳ đầu tư dài và tác động lan tỏa rộng đến toàn bộ nền kinh tế.
Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Hiệu - Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, việc doanh nghiệp nhà nước tập trung ở các ngành nền tảng là phù hợp với định hướng phát triển.
“Những lĩnh vực như tài chính - ngân hàng, năng lượng, hạ tầng hàng không hay tài nguyên đòi hỏi nguồn lực lớn, khả năng điều phối vĩ mô và tầm nhìn dài hạn. Vai trò chi phối của Nhà nước tại các doanh nghiệp này giúp bảo đảm ổn định hệ thống và định hướng chiến lược phát triển”, ông nhận định.
Tuy nhiên, ông Hiệu cũng lưu ý rằng quy mô vốn hóa lớn không đồng nghĩa với hiệu quả cao. Trong bối cảnh Nghị quyết 79 nhấn mạnh hiệu quả sử dụng vốn và chuẩn mực quản trị, doanh nghiệp nhà nước cần chuyển mạnh sang mô hình vận hành minh bạch, cạnh tranh và đại chúng thực chất.
Thực tế, một số doanh nghiệp hậu cổ phần hóa vẫn có cơ cấu sở hữu cô đặc, tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng thấp, khiến thanh khoản hạn chế và cơ chế định giá chưa phản ánh đầy đủ cung - cầu. Yêu cầu của cơ quan quản lý về việc bảo đảm tối thiểu 10% cổ phần có quyền biểu quyết do ít nhất 100 cổ đông không phải cổ đông lớn nắm giữ cho thấy chuẩn mực đại chúng đang được siết chặt.
Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Hiệu, “Để thực sự trở thành doanh nghiệp đại chúng, doanh nghiệp nhà nước không chỉ cần quy mô vốn hóa lớn, mà còn phải nâng cao trách nhiệm giải trình, bảo đảm quyền lợi cổ đông thiểu số và vận hành theo chuẩn mực quản trị hiện đại”.
Trong giai đoạn tới, phép thử đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước không chỉ nằm ở tốc độ tăng trưởng hay lợi nhuận tuyệt đối, mà ở khả năng tối ưu hóa hiệu suất vốn, cải thiện chất lượng quản trị và mở rộng tính thị trường. Khi đó, vai trò trụ cột của doanh nghiệp nhà nước trong các ngành nền tảng mới thực sự được khẳng định một cách bền vững và phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong kỷ nguyên mới.
Phan Hà
1 ngày trước
2 ngày trước
3 ngày trước
6 ngày trước
7 ngày trước
6 phút trước
2 giờ trước
1 giờ trước
37 phút trước
3 phút trước
22 phút trước
22 phút trước
1 giờ trước