🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Doanh nghiệp công nghệ chiến lược: Lần đầu gắn doanh thu tỷ USD và sáng chế quốc tế

1 giờ trước
Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước, đủ năng lực phát triển hạ tầng số, dữ liệu số, công nghệ chiến lược và an ninh mạng, qua đó tạo nền tảng cho chuyển đổi số quốc gia và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của Việt Nam.

Thúc đẩy doanh nghiệp công nghệ Việt bứt phá với mục tiêu 10 “đầu tàu” chiến lược

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng mới ký ban hành Quyết định số 1091/QĐ-TTg ngày 17/6/2026 phê duyệt Đề án hình thành các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước để phát triển hạ tầng số, nhân lực số, dữ liệu số, công nghệ chiến lược, an ninh mạng giai đoạn 2026-2030 (Đề án).

Theo Đề án, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu hình thành tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước. Các doanh nghiệp này phải đáp ứng đồng thời nhiều tiêu chí, trong đó doanh thu hằng năm đạt từ 1 tỷ USD trở lên; sử dụng bình quân từ 5.000 lao động tham gia bảo hiểm xã hội; có ít nhất một tổ chức khoa học và công nghệ hoạt động theo quy định pháp luật thuộc doanh nghiệp công nghệ số; đồng thời duy trì tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) từ 3% doanh thu trở lên. Đáng chú ý, doanh nghiệp cũng phải sở hữu tối thiểu một bằng sáng chế được cấp bởi một trong năm cơ quan sở hữu trí tuệ hàng đầu thế giới gồm USPTO, EPO, JPO, KIPO hoặc CNIPA.

Đề án xác định các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn sẽ giữ vai trò nòng cốt trong việc làm chủ, phát triển và thương mại hóa các công nghệ chiến lược then chốt; đủ năng lực giải quyết những nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời góp phần bảo đảm chủ quyền công nghệ và chủ quyền số quốc gia.

Một trong những mục tiêu hạ tầng quan trọng được đặt ra là xây dựng hệ thống hạ tầng số quốc gia đồng bộ, hiện đại, xanh, liên thông trong nước và quốc tế, có dung lượng lớn, tốc độ cao, độ tin cậy và khả dụng cao để phục vụ phát triển kinh tế số, xã hội số. Theo đó, Việt Nam sẽ triển khai và đưa vào hoạt động thêm tối thiểu 6 tuyến cáp quang biển quốc tế mới, trong đó có ít nhất một tuyến do doanh nghiệp Việt Nam làm chủ đầu tư. Cùng với đó là mục tiêu phát triển nhanh mạng di động thế hệ mới, phấn đấu phủ sóng 5G tới 99% dân số vào năm 2030.

Đề án cũng đưa ra nhiều nhóm nhiệm vụ và giải pháp để hiện thực hóa mục tiêu, gồm hoàn thiện thể chế; nâng cao hiệu quả thực thi chính sách pháp luật; triển khai các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia, bài toán lớn về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; hỗ trợ nghiên cứu, mở rộng thị trường cho doanh nghiệp; đồng thời xây dựng cơ chế đo lường, đánh giá kết quả triển khai.

Đáng chú ý, trong nhóm giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường, Đề án cho phép các địa phương căn cứ điều kiện và lợi thế đặc thù để nghiên cứu triển khai các khu thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), tạo điều kiện cho doanh nghiệp thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trước khi triển khai trên quy mô lớn. Đây được xem là cơ chế nhằm rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thương mại hóa sản phẩm công nghệ.

Bộ Khoa học và Công nghệ được giao chủ trì nhiều nhiệm vụ trọng tâm, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa công nghệ chiến lược. Một mục tiêu đáng chú ý là đến năm 2030, doanh nghiệp Việt Nam làm chủ tối thiểu 70% công nghệ chiến lược trong danh mục công nghệ chiến lược quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành. Danh mục hiện xác định 10 nhóm công nghệ chiến lược, bao gồm các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bán dẫn, công nghệ lượng tử, an ninh mạng, robot và tự động hóa…

Không chỉ dừng ở mục tiêu “sản xuất tại Việt Nam”, định hướng phát triển công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2026-2030 đang chuyển mạnh sang “sáng tạo tại Việt Nam”, thúc đẩy doanh nghiệp làm chủ công nghệ lõi, phát triển sản phẩm và dịch vụ số có khả năng cạnh tranh quốc tế. Việc hình thành các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn được kỳ vọng sẽ tạo lực đẩy mới để doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam bứt phá, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và đóng góp vào động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.

Không chỉ sản xuất tại Việt Nam, mà còn sáng tạo tại Việt Nam

Nếu Đề án hình thành doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn được xem là bước đi nhằm tạo ra những “đầu tàu” dẫn dắt phát triển công nghệ quốc gia thì Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045 lại đặt nền móng cho việc mở rộng toàn bộ hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam.

Trước đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 840/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chương trình được kỳ vọng đưa công nghiệp công nghệ số trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật nền tảng, tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số quốc gia.

Các mục tiêu được đặt ra cho giai đoạn tới cho thấy tham vọng lớn của Việt Nam trong việc tái định vị vai trò của ngành công nghệ số. Đến năm 2030, doanh thu ngành công nghiệp công nghệ số phấn đấu đạt tối thiểu 300 tỷ USD; doanh thu xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ công nghệ số đạt từ 55 tỷ USD mỗi năm; tốc độ tăng trưởng bình quân toàn ngành đạt từ 12% trở lên. Đồng thời, Việt Nam hướng tới xây dựng hệ sinh thái với ít nhất 100.000 doanh nghiệp công nghệ số hoạt động hiệu quả cùng đội ngũ hơn 3 triệu nhân lực công nghệ số.

Theo ông Trần Anh Tú, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp Công nghệ thông tin (Bộ Khoa học và Công nghệ), điểm đáng chú ý của chương trình lần này không nằm ở việc tạo thêm cơ chế mới mà tập trung đưa các chính sách đã được ban hành vào thực tiễn.

Ông Tú cho biết thời gian qua hệ thống thể chế cho phát triển công nghệ số đã được hoàn thiện đáng kể với nhiều chính sách nền tảng như Luật Công nghiệp công nghệ số, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo cùng các văn bản hướng dẫn thi hành. Những chính sách này được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào công nghệ.

“Chương trình lần này là bước tiếp theo nhằm xác định rõ các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để gắn với các cơ chế, chính sách đã được ban hành, bảo đảm chính sách đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả”, ông Tú nhấn mạnh.

Đáng chú ý, chương trình được triển khai trên tinh thần “Make in Vietnam”, nhưng với nội hàm rộng hơn sản xuất tại Việt Nam. Theo lãnh đạo Cục Công nghiệp Công nghệ thông tin, định hướng mới là sáng tạo tại Việt Nam, làm chủ công nghệ tại Việt Nam và xây dựng các sản phẩm, dịch vụ, thương hiệu công nghệ số mang dấu ấn Việt Nam.

Điều này cũng phản ánh sự chuyển dịch trong tư duy phát triển của ngành công nghệ. Nếu trước đây gia công và lắp ráp từng là động lực quan trọng giúp công nghiệp công nghệ thông tin tăng trưởng nhanh thì ở giai đoạn mới, mục tiêu là từng bước nâng vị thế doanh nghiệp Việt trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Theo đó, doanh nghiệp sẽ được khuyến khích dịch chuyển từ các khâu có giá trị gia tăng thấp sang các công đoạn có giá trị cao hơn như nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống, xây dựng tiêu chuẩn, phát triển sản phẩm và xây dựng thương hiệu.

Ông Trần Anh Tú cho rằng các mục tiêu về mở rộng số lượng doanh nghiệp, tăng trưởng doanh thu và hình thành lực lượng doanh nghiệp làm chủ công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Quy mô doanh nghiệp càng lớn, hệ sinh thái càng phát triển; doanh thu tăng sẽ mở rộng thị trường và năng lực xuất khẩu; trong khi làm chủ công nghệ sẽ quyết định khả năng tham gia sâu vào các khâu giá trị cao của chuỗi cung ứng toàn cầu.

Người dân trải nghiệm kính VR thực tế ảo tại Techfest Việt Nam 2025. (Ảnh: MST)

Hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu

Để hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra, Chương trình xác định 10 nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm, trong đó nhiều nội dung tập trung trực tiếp vào nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam.

Nhóm giải pháp đầu tiên là thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo. Nhà nước sẽ hỗ trợ phát triển các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm; thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo và triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với các mô hình, sản phẩm mới.

Theo ông Tú, đây là điều kiện cần để doanh nghiệp có không gian thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ trước khi mở rộng ra thị trường.

Một nhóm giải pháp quan trọng khác là tạo lập thị trường ban đầu cho doanh nghiệp công nghệ số. Theo đó, Nhà nước sẽ thúc đẩy các hình thức đặt hàng, giao nhiệm vụ, thuê và mua sắm sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm; đồng thời tăng cường kết nối cung – cầu công nghệ và kích thích sử dụng sản phẩm công nghệ số trong nước.

“Doanh nghiệp muốn đầu tư dài hạn cho công nghệ lõi thì trước hết phải có thị trường ban đầu để kiểm chứng và hoàn thiện sản phẩm”, ông Tú nhận định.

Song song với đó là các giải pháp nâng cao năng lực thực chất cho doanh nghiệp thông qua hỗ trợ đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật và hình thành lực lượng doanh nghiệp công nghệ số chủ lực.

Chương trình cũng đặt trọng tâm phát triển hạ tầng dùng chung cho nghiên cứu và thử nghiệm, bao gồm khu công nghệ số tập trung, phòng thí nghiệm, cơ sở đo kiểm và đánh giá chất lượng sản phẩm.

Một ví dụ đang được kỳ vọng tạo hiệu ứng lan tỏa là Trung tâm hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn vừa được Bộ Khoa học và Công nghệ thành lập tại Cục Công nghiệp Công nghệ thông tin. Trung tâm sẽ đóng vai trò hạ tầng dùng chung phục vụ hoạt động sản xuất thử nghiệm, đo kiểm và phát triển sản phẩm bán dẫn trong nước.

Đặc biệt, chương trình hướng tới hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Theo đó, doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn chất lượng trong nước và quốc tế; từng bước nâng cao vị thế trong các công đoạn có giá trị gia tăng cao.

Đối với doanh nghiệp đủ điều kiện, chương trình cũng khuyến khích khai thác hiệu quả Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp để phục vụ hoạt động tiếp nhận, làm chủ công nghệ, bao gồm cả việc mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, phòng thí nghiệm hoặc trung tâm R&D ở nước ngoài nhằm tiếp cận công nghệ tiên tiến.

Theo ông Trần Anh Tú, các giải pháp của chương trình được thiết kế theo hướng kết nối giữa chính sách, năng lực doanh nghiệp và hiệu quả tổ chức thực thi.

Mục tiêu cuối cùng không chỉ là gia tăng quy mô ngành công nghiệp công nghệ số mà còn hướng tới hình thành một hệ sinh thái doanh nghiệp có khả năng làm chủ công nghệ, tạo ra các sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam và đóng góp ngày càng lớn cho tăng trưởng kinh tế đất nước trong giai đoạn tới.

Nguyệt Thương

TIN LIÊN QUAN
































Home Icon VỀ TRANG CHỦ