🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Định lệ ban thưởng cho phụ nữ xưa

2 giờ trước
Trong quá trình khảo sát thực địa tại đô thị cổ Hội An, chúng tôi đã tiếp cận một số tấm biển hoành phi do triều đình ban sắc tứ mang nội dung 'Tiết hạnh danh văn', 'Tiết hạnh khả phong'.

Tấm biển Tiết hạnh khả phong...

Những hiện vật này được xem là nguồn tư liệu lịch sử - văn hóa quan trọng, góp phần làm rõ các chính sách văn hóa của triều Nguyễn đối với phụ nữ trong lịch sử.

Chính sách ban thưởng của triều Nguyễn

Chính sách ban thưởng của triều Nguyễn đối với những tấm gương đạo đức trong dân gian được hình thành từ thời Gia Long và từng bước hoàn thiện qua các triều vua sau.

Ngay sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã chú trọng khuyến khích và khen thưởng người dân làm việc thiện.

Đến năm Minh Mạng thứ 3 (1822), vua xuống dụ nhấn mạnh việc biểu dương các chuẩn mực đạo đức như: “Tôi trung, con hiếu, gái tiết, trai nghĩa, người dân trong nước phải nên khuyến khích. Từ xưa, nêu cao người hiếu, biểu dương người liêm, là để rèn luyện tục dân, sáng tỏ giáo hóa”.

Năm Tự Đức thứ 29 (1876), chính sách này được thể chế hóa thành định lệ cụ thể, chi tiết về mức thưởng, hình thức khen tặng, sách Đại Nam thực lục chi chép:

“Con hiếu, cháu thảo, chồng có nghĩa, vợ giữ tiết, hạng ưu thưởng 30 lạng bạc, 2 tấm sa nam, 1 tấm biển, xung quanh chạm hồi văn, rồng, hoa, sơn son thếp vàng, trước khắc 2 chữ “Sắc tứ”, ở giữa khắc ngang 4 chữ to, như con hiếu, khắc “Hiếu hạnh khả phong”; cháu thảo khắc “Hiếu thuận khả phong”; chồng có nghĩa khắc “Hạnh nghĩa khả phong”; vợ giữ tiết khắc “Tiết hạnh khả phong”, hàng dưới khắc các chữ họ, tên người ấy, người ở tỉnh, phủ, huyện, tổng, xã nào, hiếu hạnh có tiếng, đặc cách cho nêu thưởng, để khuyên người sau. Còn thì theo thế suy ra, sau, khắc niên hiệu ngày, tháng, dưới cũng thế, nhà nước làm nhà cho.

Đến năm Tự Đức thứ 36 (1883), định lệ ban thưởng tiếp tục có sự thay đổi cho phù hợp với điều kiện thực tế. Tuy định lệ được điều chỉnh theo hướng giảm mức thưởng nhưng vẫn giữ nguyên hình thức tôn vinh, cho thấy chính sách này được duy trì bền vững, thích ứng với điều kiện thực tế thời bấy giờ.

Có thể thấy, các vua Triều Nguyễn đã rất quan tâm và có những chính sách khen thưởng kịp thời cho những cá nhân, gia đình trong xã hội có tấm lòng hiếu nghĩa, làm việc thiện, đặc biệt là phụ nữ trong việc giữ trinh triết, đức hạnh, xem họ như những trụ cột góp phần duy trì nền nếp gia phong và đạo lý truyền thống của dân tộc. Đây là một biện pháp quản lý xã hội mang tính văn hóa - đạo đức đặc sắc của Triều Nguyễn.

... và tấm biển Tiết hạnh danh văn. Ảnh: Tư liệu

Ban thưởng cho người phụ nữ xưa

Qua khảo sát thực địa, chúng tôi đã tiếp cận một số tấm biển hoành phi mang nội dung “Tiết hạnh danh văn” hiện lưu giữ tại nhà số 26 Bạch Đằng và nhà thờ tộc Trương (số 69/1 Phan Châu Trinh); “Tiết hạnh khả phong” tại nhà số 7 Nguyễn Thị Minh Khai trước đây (hiện gia chủ đã chuyển tấm biển và đi sinh sống tại nơi khác) và nhà số 117 Trần Phú.

Về thời gian, các tấm biển được ban sắc tứ dưới 2 triều vua nhà Nguyễn là Khải Định và Đảo Đại, trong có tấm biển có niên đại sớm nhất là năm Khải Định thứ 4 (1919), tấm biển có niên đại muộn nhất là năm Bảo Đại thứ 15 (1940).

Về nội dung, 4 tấm biển đều ghi rõ tên người được ban sắc như Nguyễn Thị Lâu (nhà số 26 Bạch Đằng), Tạ Thị Yến (117 Trần Phú), Lê Thị Thảo (7 Nguyễn Thị Minh Khai), Đặng Thị Vịnh (69/1 Phan Châu Trinh), đây là những cá nhân sinh sống tại xã Hội An, xã Cẩm Phô và xã Minh Hương lúc bấy giờ.

Về tiết hạnh khả phong, qua nội dung trên các tấm biển hoành phi cho biết: Bà Lê Thị Thảo, xã Hội An và bà Tạ Thị Yến, xã Minh Hương, tổng Phú Triêm, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam là người có tiết hạnh. Nay đã nghe danh, được xếp hạng và ban thưởng để khuyến khích về sau.

Về tiết hạnh danh văn, qua nội dung trên các tấm biển hoành phi cho biết: Bà Đặng Thị Vịnh, quê tại xã Minh Hương và bà Nguyễn Thị Lâu, quê tại xã Cẩm Phô, tổng Phú Triêm, phủ Điện Bàn, được triều đình đặc cách ban tặng biển ngạch (vinh danh) để làm gương sáng và khuyến khích mọi người noi theo.

Ngoài các tấm biển này, trong quá trình khảo sát chúng tôi đã tiếp cận các tấm biển có ban sắc tứ với nội dung “hảo nghĩa khả gia”, “hảo nghĩa khả phong”, “thọ dân”… được lưu giữ trong các di tích.

Qua việc khảo cứu các quy định của Triều Nguyễn và sự tồn tại của các tấm biển hoành phi, có thể thấy rõ vai trò của nhà nước phong kiến trong việc thể chế hóa các quy định và lan tỏa các chuẩn mực đạo đức Nho giáo trong đời sống xã hội ở vùng đất Hội An nói riêng, cả nước nói chung thời bấy giờ. Những danh hiệu vừa là hình thức khen thưởng vừa là công cụ truyền tải những giá trị văn hóa tốt đẹp, qua đó nhằm nêu gương và định hướng các chuẩn mực đạo đức trong cộng đồng, gia đình, tộc họ, đặc biệt là vị trí, vai trò của phụ nữ trong xã hội.

Cùng với hệ thống các hoành phi trong các di tích tôn giáo - tín ngưỡng, thì các tấm biển hoành phi này là bộ phận quan trọng của di sản văn hóa vật thể gắn liền với giá trị văn hóa phi vật thể ở Đô thị cổ Hội An. Việc bảo tồn, nghiên cứu và phát huy giá trị của chúng không chỉ góp phần làm sáng tỏ lịch sử xã hội và văn hóa thời Nguyễn, mà còn có ý nghĩa trong việc giáo dục truyền thống, bồi đắp các giá trị nhân văn và bản sắc văn hóa địa phương trong bối cảnh hiện nay.

PHẠM PHƯỚC TỊNH
















Home Icon VỀ TRANG CHỦ