Điều 'sống còn' trong quản lý tài nguyên nước
Siêu El Nino gây thiếu hụt nước trong chính mùa mưa
Ngày 20/10, tại Hà Nội, Cục Quản lý Tài nguyên nước phối hợp với Báo Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội thảo “Đưa Luật Tài nguyên nước vào cuộc sống: Chủ động nguồn nước, điều hòa và vận hành hiệu quả”.
Theo bà Nguyễn Thị Phương Hoa, Trưởng phòng Lưu vực sông Nam Trung Bộ, Cục Quản lý Tài nguyên nước, trong tháng 6-8/2026, dòng chảy trên hầu hết sông, suối thuộc 12 lưu vực sông lớn thấp hơn 11-75% so với trung bình nhiều năm. Đến tháng 9, dù một số lưu vực xuất hiện mưa lũ, dòng chảy nhìn chung vẫn thiếu hụt.
Trong bối cảnh El Nino đang có cường độ rất mạnh, Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn quốc gia nhận định, tình trạng hạn hán, thiếu hụt nước sẽ xảy ra nghiêm trọng trên các lưu vực sông, đặc biệt là tại Tây Nguyên, miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long, đỉnh điểm từ cuối năm 2026 đến khoảng tháng 4/2027.

Bà Nguyễn Thị Phương Hoa, Trưởng phòng Lưu vực sông Nam Trung Bộ, Cục Quản lý Tài nguyên nước chia sẻ tại Hội thảo.
Theo bà Hoa, trong bối cảnh đó, việc điều hòa, phân phối tài nguyên nước phải căn cứ vào quy hoạch về tài nguyên nước, kịch bản nguồn nước, hiện trạng, nhu cầu và hạn ngạch khai thác, kết quả hạch toán tài nguyên nước nếu có.
Để đưa các căn cứ này vào thực tiễn điều hành, cần có cơ sở dữ liệu đầy đủ và hệ thống công cụ hỗ trợ ra quyết định.
Bà Hoa cho rằng cần tích hợp dữ liệu với các mô hình toán, phần mềm tính toán, hệ thống giám sát, quan trắc công trình khai thác, sử dụng nước trên nền tảng số. Khi thông tin được cập nhật thường xuyên, liên tục, hệ thống sẽ hỗ trợ điều chỉnh chế độ vận hành hồ chứa, từng bước hướng tới điều hòa, phân phối nước theo thời gian thực.
Trong đó, theo bà Hà, điều kiện hạ tầng, dữ liệu hiện nay chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu này, nên cần thực hiện theo lộ trình, từng bước hoàn thiện để phục vụ điều hành hiệu quả hơn.
Để triển khai, cần sự phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương và chủ công trình khai thác tài nguyên nước trong cung cấp, cập nhật, tích hợp dữ liệu và tổ chức thực hiện. Bà Hoa cho rằng, sự đồng hành của các bên là điều kiện quan trọng để các công cụ phát huy tác dụng, giúp việc điều hòa, phân phối nước sát với diễn biến nguồn nước và nhu cầu sử dụng.
Yêu cầu bắt buộc ứng dụng KHCN, chuyển đổi số
Theo GS.TS Nguyễn Quốc Dũng, Chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc nhằm nâng cao hiệu quả vận hành hồ chứa, liên hồ chứa và khai thác bền vững tài nguyên nước.

GS.TS Nguyễn Quốc Dũng, Chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam
Ông cho biết, hiện nay, chỉ khoảng 17% hồ chứa của Việt Nam được trang bị thiết bị khí tượng thủy văn chuyên dùng tự động. Cơ sở dữ liệu trên toàn lưu vực vẫn phân tán rải rác trong từng đề tài/dự án, không được cập nhật kịp thời, đặc biệt chưa có chuẩn kết nối thống nhất-đồng bộ.
Lấy ví dụ thực tế từ câu chuyện lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn có đến gần 100 đề tài, dự án nhưng dữ liệu tản mát, không có kết nối liên thông với nhau, GS Dũng cho rằng, nên chuyển từ nghiên cứu theo thế mạnh từng đơn vị sang giải quyết “bài toán thực địa” của từng lưu vực sông.
Ông cũng lấy dẫn chứng tại một số nước, toàn bộ lưu vực sông được quản lý một nền tảng điều hành thống nhất. Trong đó, toàn bộ công trình trong lưu vực sông được số hoá và lập kế hoạch sử dụng/điều tiết nước cho kịch bản hiện tại và cả tương lai, trong cả mùa lũ lẫn mùa cạn.
Mỗi lưu vực sông được trang bị Hệ thống hỗ trợ ra quyết định, có bản đồ ngập lụt số hóa cho khu vực bị tác động của hồ chứa ở hạ du, đồng thời dữ liệu được cập nhật hàng năm.
Từ thực tiễn đó, GS Dũng cho rằng, hạ tầng số quốc gia và hệ thống hỗ trợ ra quyết định (DSS) nên phát triển thống nhất. Theo đó, hệ thống DSS và bản sao số (Digital Twin) sẽ được xây dựng để dùng chung cho vận hành hồ chứa, liên hồ chứa, kết nối với hệ sinh thái số ngành nước.
Các chủ hồ thủy lợi, thủy điện phải chia sẻ dữ liệu quan trắc thời gian thực về trung tâm điều hành lưu vực sông, khắc phục tình trạng chia cắt thông tin giữa các ngành.
Hệ thống DSS cần tích hợp dữ liệu quan trắc, dự báo khí tượng thủy văn, viễn thám và bản đồ rủi ro hạ du, ứng dụng AI mô phỏng ngập lụt, hỗ trợ xả nước trước để đón lũ và điều phối liên hồ chứa linh hoạt.
Song song đó, xây dựng bản đồ ngập lụt động nhằm xác định phạm vi, độ sâu ngập và nguy cơ thiệt hại, phục vụ cảnh báo, sơ tán dân và ứng phó khẩn cấp.
Về thể chế, GS Dũng kiến nghị xây dựng bộ quy chuẩn quốc gia thống nhất về an toàn đập và hệ thống quan trắc khí tượng thủy văn, áp dụng cho cả hồ thủy điện và thủy lợi. Đồng thời, ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật đối với dịch vụ DSS, tạo cơ sở thuê hạ tầng công nghệ và chuyên gia, thúc đẩy xã hội hóa.

Các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi ở Việt Nam đối mặt với nguy cơ thiếu nước trong mùa khô 2026-2027, trong bối cảnh xảy ra El Nino rất mạnh.
Ông Trần Anh Phương, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Sông Đà 9 cũng nêu thực tế, dữ liệu thủy văn trên cùng một lưu vực hiện chưa có sự liên thông đồng bộ.
Sự thiếu liên thông dữ liệu này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chủ trương xã hội hóa việc vận hành tối ưu các hồ chứa thủy điện, nhất là khi đối mặt với các tình huống thiên tai khốc liệt như bão Yagi năm 2024.
Mặt khác, ông Phương cho biết, doanh nghiệp hiện phải đồng thời chấp hành quy định của nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau với khối lượng biểu mẫu, dữ liệu báo cáo rất lớn. Vì vậy, ông kiến nghị các cơ quan quản lý thu gọn về một số đầu mối chính, tăng cường liên thông và chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành để giảm tải áp lực báo cáo hành chính cho các nhà máy thủy điện.
Nguyễn Hoài
2 giờ trước
8 ngày trước
11 ngày trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 phút trước
20 phút trước
29 phút trước
31 phút trước
33 phút trước
50 phút trước
59 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước