🔍
Chuyên mục: Hình sự - Dân sự

Di vật của liệt sĩ Đậu Sỹ Hùng và bức thư cuối cùng

20 giờ trước
Năm 2001, Đội Quy tập 584, Phòng Chính trị, Bộ CHQS tỉnh Quảng Trị phát hiện ngôi mộ cùng mảnh nhôm khắc thông tin: Đậu Sỹ Hùng-31202 tại huyện Sepone, tỉnh Savannakhet (Lào). Di vật được Bảo tàng Quân khu 4 trưng bày và qua đó đã xác minh được lý lịch của liệt sĩ. Sau đó, gia đình liệt sĩ đã hiến tặng bức thư đi qua cuộc chiến, thể hiện trong đó tình yêu thời trận mạc thủy chung, nồng nàn mà trong sáng, cao đẹp.
00:00
00:00

Giải mã di vật từ lòng đất

Trung tuần tháng 1-2001, trong đợt tìm kiếm, cất bốc hài cốt liệt sĩ ở Bản Mày, xã Tà Rịa, huyện Sepone, tỉnh Savannakhet (Lào), Đội Quy tập 584, Phòng Chính trị, Bộ CHQS tỉnh Quảng Trị phát hiện 4 ngôi mộ có những mảnh nhôm khắc tên: Đậu Sỹ Hùng-31202, Trần Văn Bảo, Nguyễn Văn Lợi, Trần Văn Sông. Những di vật này được cán bộ, nhân viên Bảo tàng Quân khu 4 đưa về trưng bày, lưu giữ và làm công tác xác minh lý lịch của các liệt sĩ.

Mảnh nhôm khắc thông tin “Đậu Sỹ Hùng - 31202” và lá thư cuối cùng liệt sĩ gửi về cho gia đình.

Mảnh nhôm hình chữ nhật lấy từ mảnh xác máy bay có kích thước 10x12cm, khắc thông tin “Đậu Sỹ Hùng-31202”. Với nỗ lực tìm kiếm, khớp nối thông tin của cán bộ, nhân viên Bảo tàng Quân khu 4, 6 tháng sau, mọi nỗ lực đã được đền đáp khi thân nhân liệt sĩ Đậu Sỹ Hùng là chị Nguyễn Thị Hòa, con dâu của liệt sĩ, quê ở xã Công Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An tìm đến Bảo tàng Quân khu 4 để xác minh, bổ sung thông tin liệt sĩ.

Theo đó, đồng chí Đậu Sỹ Hùng sinh năm 1941, tại xã Công Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Tháng 4-1959, anh xung phong nhập ngũ, dù thành phần thuộc diện ưu tiên là con trai duy nhất trong gia đình. Sau thời gian huấn luyện, học tập, anh được biên chế vào Sư đoàn 325. Năm 1965, trước lúc cùng đơn vị hành quân vào miền Nam chiến đấu, anh được cấp trên giải quyết cho về thăm nhà, lúc này, vợ anh vừa sinh con trai được 20 ngày và không thể ngờ rằng đó là lần duy nhất anh được gặp con. Năm 1967, đơn vị anh tham gia chiến đấu với nhiệm vụ bao vây, tiêu diệt địch tại cao điểm 845, phía Tây Đường 9, Quảng Trị. Trên cương vị Trung đội trưởng, anh chỉ huy Trung đội 5, Đại đội 2, Tiểu đoàn 4 phối thuộc với đơn vị bạn chiến đấu và đã anh dũng hy sinh.

Nhận được giấy báo tử chồng hy sinh tại chiến trường, chị Lâm-vợ anh và gia đình đau xót tận cùng. Lúc đó, con trai anh là Đậu Sỹ Hương vừa tròn 2 tuổi. Gạt nước mắt, chị Lâm vừa tham gia sản xuất vừa phục vụ chiến đấu, làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông vận tải trên tuyến đường 7 và thay chồng nuôi con khôn lớn.

Sau ngày đất nước thống nhất, căn cứ vào những thông tin trên giấy báo tử và lá thư cuối cùng gia đình nhận được, bà Lâm cùng con trai quyết tâm đi tìm hài cốt của liệt sĩ. Nhiều lần, bà cùng người thân đến từng nghĩa trang địa phương, thôn, bản, luồn rừng, vượt suối trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, tuyến biên giới Việt-Lào để tìm đưa liệt sĩ trở về. Mỗi chuyến đi kéo dài hàng tuần, hàng tháng vẫn không có kết quả. Mọi việc tưởng chừng bế tắc cho đến khi gia đình biết được thông tin từ Bảo tàng Quân khu 4.

Lá thư cuối cùng

Một ngày cuối năm 2002, chúng tôi về thăm gia đình liệt sĩ Đậu Sỹ Hùng tại xã Công Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Bà Lâm, vợ liệt sĩ bắt đầu câu chuyện: Ngày đó, bà là cô gái nổi tiếng xinh đẹp, nết na, lần đầu gặp, ông đã thầm yêu, trộm nhớ. Sau nhiều lần ông ngỏ lời bà mới đồng ý về làm vợ ông. Hạnh phúc chưa được bao lâu, ông lên đường đi chiến đấu, rồi hy sinh. Sau này, không biết bao lần họ hàng hai bên động viên bà đi bước nữa, nhưng bà ở vậy nuôi con khôn lớn, phụng dưỡng bố mẹ chồng. Bà vẫn một lòng chờ đợi, vì lời hẹn “hết giặc anh về, vợ chồng đoàn tụ, khi đó trong căn phòng quen thuộc má lại kề má, môi lại kề môi ắt cũng chưa muộn lắm”. Bà nghẹn ngào tâm sự: “Tôi đã đợi hơn 30 năm, bây giờ mới đón được ông ấy về. Gia đình tôi rất cảm ơn cán bộ, chiến sĩ Đội Quy tập 584, Phòng Chính trị, Bộ CHQS tỉnh Quảng Trị, cảm ơn cán bộ, nhân viên Bảo tàng Quân khu 4 và các báo, đài đã khớp nối thông tin để tôi tìm thấy hài cốt chồng tôi”.

Nâng niu lá thư đã nhuốm màu thời gian của liệt sĩ Đậu Sỹ Hùng, người con trai duy nhất của liệt sĩ là anh Đậu Sỹ Hương, sau thời gian học tập tại Liên Xô trở về công tác trong ngành y, chậm rãi đọc từng dòng chữ:

“31.202.RT

Lâm, em yêu của anh!

Em ơi! Mỗi khi nhắc tới em và con, lòng anh như se thắt lại... Song vì nhiệm vụ, là một đảng viên, anh không thể nghĩ gì ngoài vấn đề hiến dâng tất cả cho sự nghiệp cách mạng của Đảng. Tình cảm của cách mạng và tình cảm của cá nhân có thể nói không tách rời nhau được, nhưng vì lúc nước nhà đang hoạn nạn thì anh phải cầm súng. Hết giặc anh về vợ chồng đoàn tụ...

Lâm em! Anh sắp bước vào trận đấu thử lửa, mặt đối mặt với kẻ thù. Trước lúc ra đi, anh mong em một điều, là làm sao chịu khó nuôi con thay anh và giúp đỡ cha mẹ đôi bên để anh yên tâm công tác. Đó là điều anh rất mong...

Điều thứ hai là anh ra đi có hy sinh tính mạng cho Tổ quốc thì em cũng phải can đảm bớt đau khổ, đừng khóc lóc buồn nản...

Nếu anh có chết thì sau này nói cho con nghe về người cha của nó chưa bao giờ nhìn thấy...

Hôn em nhiều cái hôn đầy thương nhớ.

Anh yêu của em.

Sỹ Hùng-31.202. RT”.

Có lẽ khi viết bức thư này, người lính đã dự cảm rằng sẽ hy sinh trong “trận đấu thử lửa, mặt đối mặt với kẻ thù”. Bởi vậy, đầu và cuối thư đều có ký hiệu “31.202.RT”. Trao lá thư mà suốt mấy chục năm qua vẫn luôn lưu giữ bên mình tặng Bảo tàng Quân khu 4, người vợ tần tảo, thủy chung của liệt sĩ thì thầm nói: “Tôi đã thực hiện được ước nguyện của ông, nuôi dạy con trưởng thành, nơi chín suối ông hãy yên lòng...”.

HOÀNG TRUNG - BÍCH NGỌC












Home Icon VỀ TRANG CHỦ