🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Đền thiêng - sứ giả văn hóa đến từ hôm qua!

2 giờ trước
Là nơi thờ phụng các vị thần, anh hùng có công, tự thân các ngôi đền đã là một không gian thiêng kết nối con người với cội nguồn tâm linh và quá khứ lịch sử. Mỗi ngôi đền đều chứa đựng các giá trị văn hóa riêng về nghệ thuật, kiến trúc, tín ngưỡng, phản ánh và ký thác niềm tin, khát vọng.

Không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo, tâm linh, nghệ thuật, đền thiêng còn là biểu tượng của lòng thành kính, của đạo lý biết ơn. Ở bất cứ thời nào, các ngôi đền đều là sứ giả, là cầu nối văn hóa hôm qua với hiện tại.

Bức thông điệp giàu có ý nghĩa của quá khứ

Hầu hết các hiện vật văn hóa có giá trị được lưu lại từ quá khứ đều là những biểu tượng có hai lớp nghĩa: Một, là những ký hiệu có trong lịch sử, theo thời gian được bồi đắp nhiều lớp phù sa văn hóa, lắng đọng, kết thành hình tượng bao chứa lượng tri thức văn hóa sâu rộng, có tính cộng đồng cao, trở thành một “căn cước văn hóa”. Hai, tập trung khái quát cao độ những ý nghĩa lịch sử - xã hội, nhìn vào đó sẽ thấy phần nào nội dung bản chất thời đại.

Trong hệ thống biểu tượng, đền rất giàu có ý nghĩa, bởi tập trung tồn tại ở đó gần như đủ các loại hình nghệ thuật: văn học, kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc… nổi bật hơn cả là về kiến trúc và tôn giáo. Một nguyên tắc kiến tạo tượng đài, theo mỹ học tạo hình hiện đại phải vừa là nơi gặp gỡ, tương tác giữa ánh hồi quang từ quá khứ và những ánh xạ của cuộc sống đương đại, để tạo nên dải quang phổ có độ tán sắc ánh sáng văn hóa. Vì vậy không gian tượng đài, không chỉ để làm phông nền cho hình tượng, còn khơi gợi ra sự liên tưởng thẩm mỹ về tầm cao tôn kính, chiều sâu triết lý, bề xa nhận thức.

Đền thờ Chu Văn An.

Đền thiêng trước hết là một tượng đài tỏa sáng muôn ngàn ý nghĩa văn hóa. Ví như đền thờ Khổng Tử, về bố cục, được xây dựng theo trục dọc đối xứng, cấu trúc của “thiên - địa - nhân” trong triết học Nho giáo. Từ cổng (Tam Quan) - mô hình “tam tài” (Trời - Đất - Người); đến ao (Thiên Quang) - sự tĩnh lặng, phản chiếu trí tuệ; qua sân (Đại Thành) - bể học mênh mông; đến điện thờ chính - tôn vinh tri thức, đạo đức. Đó là một hành trình từ cõi thế tục đến miền đạo đức, trí tuệ thiêng liêng. Vật liệu kiến trúc của đền kết hợp hài hòa gỗ, đá, ngói, cây cối để kiến tạo một không gian trang nghiêm, thanh tịnh với triết lý “tĩnh để học, hòa để sống”.

Như vậy, đền thờ Khổng Tử, ngoài ý nghĩa tôn giáo, tâm linh, còn sâu sắc ý nghĩa giáo dục, triết học. Theo tinh thần đối thoại văn hóa, hành vi viếng đền, ngoài một khát vọng tôn giáo, còn là dịp để con người lắng lại, gợi ngẫm, tự soi chiếu vào thế giới nội cảm về đạo làm người, về sự hài hòa con người - xã hội - thiên nhiên.

Tháp Chăm là đền thờ của người Chăm theo đạo Bà-la-môn (Hindu giáo), thờ các vị thần Hindu như Shiva, Vishnu, Brahma hoặc thờ các vị vua anh minh được “thánh hóa”. Nhưng vẫn quen gọi là “tháp Chàm” để nhấn mạnh đặc trưng kiến trúc hình tháp nhiều tầng với hệ thống hoa văn tinh xảo. Xét về chức năng tín ngưỡng, đó là những ngôi đền, đúng ra, phải gọi đầy đủ là “đền tháp Chăm”.

Là sự mô phỏng Linga - Yoni (sinh thực khí nam - nữ trong Ấn Độ giáo), tháp Chăm biểu trưng cho sự sáng tạo và sinh sôi của vũ trụ. Hình tháp vươn cao, đỉnh thu nhỏ mang dáng dấp thẳng đứng của Linga - biểu trưng cho thần Shiva. Đỉnh tháp (thường hình chóp/búp sen) được coi là phần thiêng nhất, hướng lên trời, thể hiện sự giao hòa giữa con người và thần linh. Trong lòng tháp đặt Linga - Yoni, là nơi tôn thờ sức mạnh sáng tạo của thần Shiva và nguyên lý âm - dương, trời - đất.

Cấu trúc của tháp cũng nói lên khát vọng về một cuộc sống sinh sôi, với đế tháp (Yoni - đất, phần âm, tượng trưng cho thế giới vật chất); thân tháp (cuộc đời); đỉnh tháp (cõi thiêng). Không chỉ là một biểu tượng kiến trúc hóa của Linga - Yoni, tháp Chăm còn là tư tưởng vũ trụ luận, là tín ngưỡng phồn thực trong Ấn Độ giáo được “Chàm hóa”.

Bản lề khép mở hai thế giới!

Mỗi ngôi đền, dù thuộc tôn giáo hay nền văn minh nào, đều phản ánh niềm tin, triết lý sống và khát vọng hướng thiện của con người. Như cái bản lề khép mở hai thế giới hôm qua với hôm nay. Nhìn vào hôm qua để biết, và suy ngẫm về hôm nay.

Một nghiên cứu địa khảo cổ quy mô, mới nhất về quần thể đền Karnak thiêng bậc nhất của Ai Cập cổ đại, có kết quả cho thấy vị trí ngôi đền liên quan đến thần thoại sáng thế. Phân tích 61 lõi trầm tích cùng vô số mảnh gốm thu thập trong và xung quanh khu đền, các nhà khoa học khẳng định, khu vực này trước khoảng năm 2.520 trước Công nguyên thường xuyên bị ngập do lũ, chưa thể sinh sống lâu dài. Việc định cư và khởi dựng công trình chỉ có thể bắt đầu từ thời Cổ Vương quốc (khoảng 2.300 – 1.980 TCN).

Đối chiếu với các văn bản thời Cổ Vương quốc, khu đảo nơi dựng đền Karnak là vùng đất cao duy nhất, chung quanh là nước. Nơi này chính là chỗ ở của thần Ra-Amun - bóng dáng “hoàn hảo” của hình ảnh “gò sáng thế” nổi lên từ “nước hỗn mang” - biểu tượng của sự khai sinh vũ trụ. Kết quả các nghiên cứu liên ngành đang dần làm hiện lên khá rõ không gian trung tâm tôn giáo cổ Thebes.

Ở ta, truyền thuyết “Thăng Long tứ trấn”, thực chất là truyền thuyết về bốn ngôi đền. Chữ “trấn” ở đây được hiểu là ngăn cản, giữ gìn, bảo vệ, cụ thể là ngăn cản sự “trấn yểm” của Cao Biền để bảo vệ Thăng Long “đệ nhất đại huyệt mạch đế vương quý địa” (huyệt mạch đế vương tốt nhất, quý nhất). “Tứ trấn” gồm: Đền Bạch Mã trấn phía Đông; Đền Voi Phục trấn phía Tây; Đền Kim Liên trấn phía Nam; Đền Quán Thánh trấn phía Bắc. Mỗi ngôi đền thờ một vị thần có nguồn gốc và ý nghĩa khác nhau nhưng có điểm chung đều là võ thần, tức các thần có sức mạnh để cảm hóa hoặc chinh phục giặc dữ xâm lăng hoặc kẻ xấu, kẻ ác.

Lời nhắn của tiền nhân

Đền thờ Chu Văn An của ta để tôn vinh bậc danh sư lỗi lạc – Chu Văn An (1292-1370), người thầy mẫu mực muôn đời, biểu tượng cho truyền thống “tôn sư trọng đạo”, mang ý nghĩa sâu sắc về giáo dục, đạo đức và tinh thần chính trực của người trí thức. Đền thờ là biểu tượng của tinh thần hiếu học, nhắc nhở các thế hệ học trò rèn luyện nhân cách, trau dồi học vấn. Việc đến dâng hương tại đền, ngoài hành động tri ân người/nghề thầy, còn là lời nhắc nhở về chuẩn mực đạo đức, lối sống giản dị, khiêm nhường, trung thực.

Đền Taj Mahal (Ấn Độ).

Ở Ấn Độ, đền Taj Mahal - biểu tượng cho tình yêu vĩnh cửu, mang ý nghĩa kiến trúc, nghệ thuật, tâm linh Ấn Độ. Taj Mahal được hoàng đế Mughal Shah Jahan cho xây dựng vào thế kỷ XVII để tưởng nhớ người vợ yêu Mumtaz Mahal. Vì thế, công trình này được gọi là “ngôi đền của tình yêu”, là sự kết tinh “liên văn hóa” giữa nghệ thuật Hồi giáo, Ba Tư và Ấn Độ giáo.

Tính đối xứng gần như tuyệt đối của công trình hay là tính tuyệt đối của tình yêu đích thực? Công trình được làm bằng đá cẩm thạch trắng, phản chiếu ánh sáng theo thời gian: buổi sáng ánh hồng, trưa trắng sáng, chiều vàng và đêm trăng ánh bạc. Thì ra, tình yêu luôn tỏa sáng mọi thời gian, vĩnh cửu với thời gian. Đó cũng chính là biểu tượng con người luôn phát sáng rực rỡ. Phải chăng đó còn là “cấp độ” của tình yêu và cuộc đời: thời trẻ mạnh mẽ, nồng nàn (hồng); tuổi thành niên trí tuệ, sáng láng (trắng sáng)…

Mỗi ngôi đền, ngọn tháp là một cuộc đời

Đến nay, nhiều nhà nghiên cứu giáo dục nổi tiếng thế giới ngạc nhiên khi Chu Văn An - bậc “vạn thế sư biểu” của Việt Nam, từ thế kỷ XIV đã đưa ra chân lý mang tính hiện đại, phổ quát rộng rãi đến hôm nay: “Ta chưa từng nghe nước nào coi nhẹ sự học mà khá lên được”.

Ngoài thể hiện tầm quan trọng của giáo dục đối với sự thịnh suy mỗi quốc gia, còn gửi tới nhân loại thông điệp thế giới cần hòa bình, con người phải được tôn trọng. Chỉ khi ấy, “sự học” mới đúng nghĩa. Đền thờ Chu Văn An chính là một mô phỏng về cấu trúc nhân cách người thầy trí tuệ, nhân văn.

Lại có thể hiểu, theo nghĩa bóng, mỗi ngôi đền, ngọn tháp chính là tư thế một con người đứng trong vũ trụ, trời đất, có thể là nơi đông đúc (quần thể đền/tháp), hoặc cô đơn (đền/tháp đơn), đều xứng đáng được tôn trọng, ngợi ca.

Nhà thơ Chế Lan Viên lại hiểu đền nghiêng về nghĩa biểu trưng cho con người đầy sự phức tạp: “Anh là tháp Bay-on bốn mặt/ Giấu đi ba, còn lại đấy là anh/ Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc/ Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình” (Tháp Bay-on bốn mặt). Chỉ một “mặt” thôi đã “nghìn trò cười khóc” rồi, huống hồ cả “bốn mặt”. Khi trở thành tài sản văn hóa, đền là một biểu tượng có sức sống vượt thời gian: “Tượng thờ dù đổ vẫn thiêng” (Lermontov)…

Nguyễn Thanh Tú















Home Icon VỀ TRANG CHỦ