Đề xuất quy định xác định doanh thu tính thuế tài nguyên đối với khoáng sản kim loại

Bộ Tài chính đề xuất bổ sung Điều 5a vào Nghị định số 50/2010/NĐ-CP quy định về thuế tài nguyên đối với khoáng sản kim loại
Tại dự thảo, Bộ Tài chính đề xuất bổ sung Điều 5a vào Nghị định số 50/2010/NĐ-CP quy định về thuế tài nguyên đối với khoáng sản kim loại.
Cụ thể:
Trường hợp tài nguyên khai thác là khoáng sản kim loại (bao gồm quặng nguyên khai, quặng tinh và khoáng sản đi kèm) thì thực hiện như sau:
Thuế suất thuế tài nguyên áp dụng tương ứng với từng loại sản phẩm xác định doanh thu tính thuế tài nguyên (quặng nguyên khai, quặng tinh).
Trường hợp sản phẩm bán ra chứa nhiều loại khoáng sản khác nhau thì áp dụng thuế suất của loại khoáng sản có mức thuế suất cao nhất.
Doanh thu để tính thuế tài nguyên là toàn bộ tiền bán hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền, nhưng không thấp hơn doanh thu tính theo giá tính thuế do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tương ứng:
a) Đối với doanh nghiệp kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế thì doanh thu tính thuế tài nguyên là doanh thu không có thuế giá trị gia tăng;
b) Đối với doanh nghiệp kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng thì doanh thu tính thuế tài nguyên bao gồm cả thuế giá trị gia tăng.
c) Đối với sản phẩm bán theo phương thức trả góp, trả chậm là tiền bán sản phẩm trả tiền một lần, không bao gồm tiền lãi trả góp, tiền lãi trả chậm.
d) Doanh thu tính thuế đối với trường hợp sản phẩm dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ được xác định theo giá bán của sản phẩm cùng loại hoặc tương đương trên thị trường tại thời điểm trao đổi, tiêu dùng nội bộ.
đ) Đối với trường hợp doanh nghiệp vừa khai thác khoáng sản gắn với chế biến, vừa có hoạt động mua quặng thô đã được kê khai, nộp thuế tài nguyên từ doanh nghiệp khác để tiếp tục đưa vào chế biến thì doanh thu tính thuế tài nguyên:
Phương án 1: được xác định theo tỷ lệ khối lượng tài nguyên thực tế khai thác trong tổng khối lượng tài nguyên đưa vào chế biến.
Ví dụ: Công ty A khai thác 3.000 tấn quặng sắt thô, đồng thời mua 7.000 tấn quặng sắt thô từ công ty khác (đã nộp thuế tài nguyên) với số tiền mua hàng là 2 tỷ đồng về để chế biến tinh quặng sắt. Công ty bán ra tinh quặng sắt thu được 10 tỷ đồng. Doanh thu tính thuế tài nguyên trong trường hợp này là 3 tỷ đồng (tương ứng với tỷ lệ khối lượng 3.000 tấn quặng sắt thô thực tế khai thác trong tổng số 10.000 tấn quặng sắt thô đưa vào chế biến).
Phương án 2: là doanh thu bán sản phẩm sau chế biến được khấu trừ giá trị của phần khoáng sản mua ngoài đã nộp thuế tài nguyên.
Giá trị của phần quặng thô mua ngoài đã nộp thuế tài nguyên được xác định theo công thức sau:

Trong đó:
Vkhấu trừ: Giá trị của phần quặng thô mua ngoài được khấu trừ.
Vquặng thô: Giá trị mua quặng thô: là giá ròng trên hóa đơn mua vào (không bao gồm thuế GTGT và chi phí vận chuyển được ghi nhận riêng trên hóa đơn).
Tquặng thô: Thuế suất thuế tài nguyên đối với quặng thô.
Tquặng tinh: Thuế suất thuế tài nguyên đối với quặng tinh.

Thời điểm xác định doanh thu tính thuế
Đối với hoạt động bán sản phẩm khoáng sản là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng sản phẩm cho người mua.
Đối với sản phẩm khoáng sản sản xuất đưa vào tiêu dùng nội bộ, thời điểm tính thuế là thời điểm đưa hàng hóa vào sử dụng.
Trường hợp hàng hóa bán ra không thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên thì căn cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng quặng tinh được sử dụng vào trong chế biến, giá tính thuế và thuế suất.
Thuế tài nguyên phải nộp = Gquặng tinh x Qquặng tinh x Tquặng tinh
Trong đó:
Gquặng tinh: Giá tính thuế tài nguyên đối với quặng tinh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
Qquặng tinh: Sản lượng quặng tinh đưa vào chế biến trong kỳ.
Tquặng tinh: Thuế suất thuế tài nguyên của quặng tinh.
Mời bạn đọc xem toàn văn dự thảo và góp ý tại đây./.
3 ngày trước
7 ngày trước
4 phút trước
12 phút trước
19 phút trước
1 giờ trước
1 phút trước
1 phút trước
22 phút trước
30 phút trước
35 phút trước